CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHONG CÁCH HỌC TẬP MÔN HÓA HỌC CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu về phong cách học tập của học sinh trung học phổ thông ở trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Phong cách học tập là một lý thuyết học tập hiện đại đang được quan tâm hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà còn trên thế giới. Thuật ngữ “phong cách học tập” (Learning Style or Learning Preferrence) có nguồn gốc từ nghiên cứu của Thelen (1954) về vấn đề động lực của nhóm tại nơi làm việc: “Hoạt động học rất phức tạp vì liên quan đến suy nghĩ, cảm xúc, hành động và nhu cầu nên đòi hỏi người dạy phải tổ chức các dạng hoạt động tương ứng với hoạt động học”.
Các nghiên cứu về PCHT rất phong phú và đa dạng, tiếp cận theo nhiều khía cạnh khác nhau. Nghiên cứu về PCHT của HS THPT hiện nay có hai hướng chính: nghiên cứu về các dạng PCHT và thang đo PCHT; nghiên cứu mối quan hệ giữa PCHT và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp để nâng cao kết quả học tập. Theo xu hướng nghiên cứu về các dạng PCHT, các nghiên cứu về PCHT ở Anh, Mỹ, Tây Âu bắt đầu từ đầu thế kỉ XX và vẫn đang đưa ra những quan điểm xây dựng một số lượng lớn các công cụ đo khác nhau. Từ những năm 1960, các nghiên cứu về PCHT mới bắt đầu được tiến hành.
Theo tổng hợp của Ken Dunn và Rita Dunn, đến năm 2006, có khoảng 650 đầu sách về PCHT được xuất bản tại Mỹ, Canada, 4500 bài báo đăng tải trên các ấn phẩm khoa học về nội dung này và hơn 26000 website đang hoạt động nhằm đo lường và phân loại PCHT. Từ cuối những năm 60 của thế kỉ XX đến nay, David A.Kolb (1939-) đã thực hiện nhiều nghiên cứu chuyên sâu về phong cách học tập dựa trên lí thuyết học tập trải nghiệm. Kolb và Fry (1975) cho rằng, học tập là sự tích hợp của các kinh nghiệm cảm xúc cụ thể (Concrete Emotional Experience) với quá trình nhận thức (Cognitive Process): phân tích và hiểu khái niệm. Tác giả phát triển danh mục mô tả ưu điểm và 7 hạn chế về phong cách học tập của cá nhân gọi là Danh mục các phong cách học tập (Learning Styles Inventory – LSI) để đo lường mức độ nhấn mạnh tương đối của cá nhân đối với bốn khả năng học tập bằng cách xếp hạng thứ tự bốn từ khóa mô tả những khả năng này của bản thân là “Cảm xúc”, “Quan sát”, “Tư duy” và “Thực hiện/Làm”.
Với những nghiên cứu về PCHT dựa trên lý thuyết học tập trải nghiệm, Kolb và cộng sự đã chứng minh tính đa dạng và chỉ ra khả năng vận dụng sự hiểu biết liên quan tới sở thích về cách học trong mối quan hệ biện chứng với xây dựng chiến lược dạy học hiệu quả. Theo quan niệm của D.Kolb thì PCHT của mỗi cá nhân là tương đối ổn định, bền vững. Đóng góp lớn của Kolb chính là đã đem đến những kiểu học tập khác nhau, định hướng cho việc dạy và học. Các nghiên cứu về PCHT (từ 1979) c ủ a Rita Dunn đã xây dựng bộ công cụ đánh giá PCHT được nhiều trường phổ thông, đại học ở Mỹ sử dụng cũng như ở các nước khác: Australia, Phần Lan, Malaysia, New Zealand, Brunei, Na Uy, Singapore.
Mô hình phong cách học tập của Dunn và Dunn (1979) được sử dụng rộng rãi trong các trường học ở Hoa Kỳ, và 177 bài báo đã được xuất bản trên các tạp chí bình duyệt đề cập đến mô hình này. Dunn và Dunn (1979) cho rằng phong cách học tập có sự khác biệt giữa các học sinh, giáo viên cần tạo ra những thay đổi trong lớp học của mình để tạo thuận lợi cho mọi phong cách học tập của người học. Tác giả nhận định năm kích thích ảnh hưởng đến phong cách học tập gồm: môi trường (Environmental); xúc cảm (Emotional); xã hội (Sociological); sinh lý (Physiological); tâm lý (Psychological). Mỗi kích thích đều có các yếu tố cụ thể đi kèm mà phụ huynh hoặc nhà giáo dục có thể sử dụng để hiểu sâu hơn về trí tuệ trẻ mà họ đang nuôi dưỡng và hướng dẫn, đồng thời tối ưu hóa môi trường học tập cho từng cá nhân người học đó.
Trên cơ sở sử dụng lí thuyết học tập của Kolb và bộ câu hỏi tìm hiểu các phong cách học tập của Kolb để khám phá các cá nhân học như thế nào, Honey và Mumford đã dành ra 4 năm thử nghiệm với các phương pháp tiếp cận khác nhau để đánh giá sự khác biệt cá nhân trong cách học tập có ưu thế hơn trước khi đưa ra bộ câu hỏi điều tra về PCHT (Learning Styles Questionare – LSQ) vào năm 1982. Trong đó thay vì 8 hỏi mọi người một cách trực tiếp họ học như thế nào như trong bộ công cụ của Kolb – trong đó có một vài điều mà hầu hết mọi người đều không có ý thức về nó – Honey và Mumford đưa ra những câu hỏi thăm dò xu hướng chung của hành vi chứ không phải là học tập. Công cụ mới của Honey và Mumford được thiết kế dựa trên việc tìm hiểu thái độ và hành vi để xác định sở thích liên quan đến việc học tập, từ đó phát triển cải thiện việc học tập, vận dụng những điểm mạnh của cá nhân người học trong việc phát triển toàn diện cho họ. Neil Donald Fleming và cộng sự đã nghiên cứu và xác định phong cách học tập qua giác quan, thiết kế bộ câu hỏi VARK công bố lần đầu tiên vào năm 1987 và điều chỉnh nhiều lần vào năm 2006, 2009, 2013 và 2019.
Fleming và cộng sự (1992), Fleming (1995), Fleming (2019) đã giải thích các đặc điểm của bốn phong cách học tập trong Danh mục VARK. Tác giả cho rằng xác định đúng sở thích về cách học từ đó xác định các chiến lược học tập phù hợp với sở thích sẽ khuyến khích người học phát huy thế mạnh, mang lại hiệu quả trong học tập. Coffield và cộng sự (2004) đã thống kê có 71 mô hình về PCHT (learning styles models) đáng chú ý trên thế giới và ông đã nghiên cứu đánh giá 13 mô hình trong số đó. Trong số các mô hình được vận dụng nhiều nhất phải kể đến là mô hình của Kolb, mô hình của Dunn và Dunn, mô hình nhận thức của Witkin, mô hình của Biggs, mô hình của Entwistle.
Mô hình của Honey-Mumford và mô hình của Neil Donald Fleming. Nghiên cứu mối quan hệ giữa PCHT và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp để nâng cao kết quả học tập, các tác giả nghiên cứu rất đa dạng, chủ yếu theo mảng tâm lý học, một số về xã hội học, kinh tế, quản lý và giáo dục học. Theo Li-fang Zhang, Robert Sternberg (2002) có khoảng 486 bài báo đã công bố về việc ứng dụng PCHT, trong đó 405 báo cáo có thực nghiệm. Trong đó 16% các bài báo công bố ứng dụng PCHT ở trường phổ thông, 79% tập trung vào giáo dục đại học và sau đại học 5% ứng dụng ở cả 2 cấp học trên.
Các bài công bố này đến từ 44 quốc gia, trong đó 5 quốc gia có nhiều công bố ứng dụng PCHT nhất là Mỹ (29,6%), Anh (15,8%), Australia (8%), Trung Quốc , Thổ Nhĩ Kỳ (6%). Các nghiên 9 cứu này hướng vào 5 ứng dụng chính: (1) ảnh hưởng của các yếu tố mới đến việc tiếp cận học tập của HS và sự điều chỉnh các bước chuyển trạng thái của chúng; (2) các vấn đề liên quan đến sự linh hoạt của phong cách; (3) mối quan hệ giữa phong cách học của HS và phong cách dạy của GV; (4) sử dụng các phong cách như một khung để nâng cao hiệu quả giáo dục; (5) môi trường e-learning và ứng dụng các phong cách. Trong đó ứng dụng PCHT trong e-learning phổ biến nhất, chiếm một nửa các công trình công bố (Li-fang Zhang, 2012). Các tác giả nghiên cứu về PCHT trong các lĩnh vực trên hướng tới việc làm rõ các căn cứ và lý luận của lý thuyết này trong lĩnh vực của mình.
Nhiều nhà khoa học nghiên cứu tác động, ảnh hưởng qua lại của PCHT tới hoạt động dạy của GV và học của HS (Thelen, 1954; Dunn và Dunn, 1979; Zapalska và Dabb, 2002; Wilson, 2011; Wu và Fazarro, 2013; …). PCHT của HS có thể tác động tới nhiều khía cạnh khác nhau trong lớp học như môi trường học tập, cấu trúc lớp học, phương pháp dạy học. Các nhà nghiên cứu đưa ra các mô hình và công cụ với nhiều mục đích nhau. Một số nhằm mục đích đóng góp cho quan điểm lý thuyết về PCHT và không nghiên cứu thiết kế công cụ để sử dụng thực tế.
Ngược lại, các tác giả khác lại phát triển công cụ để sử dụng rộng rãi cho người học trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Như vậy, tổng quan các nghiên cứu trên thế giới về phong cách học tập của học sinh cho thấy, các nhà khoa học đã nghiên cứu xác định các dạng phong cách học tập của học sinh và biểu hiện của chúng. Bên cạnh đó, các tác giả cũng phát triển các công cụ đo lường dạng phong cách học tập của học sinh. Ngoài ra, các nhà khoa học đã phân tích sâu cơ sở lí luận và nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ tác động giữa phong cách học tập và thiết kế/tổ chức dạy học của giáo viên và thành tích học tập của học sinh.
Tại Việt Nam Nghiên cứu về phong cách học tập tại Việt Nam tập trung vào xác định các dạng PCHT, mối quan hệ giữa PCHT và sử dụng các phương pháp dạy học tích cực phù hợp để nâng cao kết quả học tập gồm: 10 Nghiên cứu một số mô hình phong cách học tập và khả năng ứng dụng vào giáo dục trung học phổ thông, Hồ Thị Hồng Vân (2013) hệ thống hóa cơ sở lý luận về các quan điểm, đặc điểm, các thành tố, phân loại, đưa ra một số luận điểm về phong cách học tập, mô tả, phân tích đánh giá và gợi ý ứng dụng trong giáo dục của 3 mô hình phong cách học tập tiêu biểu là mô hình của Kolb, Honey- Mumford và Fleming. Từ việc tìm hiểu rõ về quan điểm của các tác giả để vận dụng mô hình phong cách học tập vào giáo dục Việt Nam.