Chương 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm, định nghĩa sử dụng trong nghiên cứu 1. Khái niệm HIV và giám sát HIV Theo qui định tại Điều 2 của Luật phòng chống nhiễm virút gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người (HIV/AIDS), thuật ngữ HIV và AIDS được hiểu như sau: - HIV là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Human Immunodeficiency Virus” là vi rút gây ra suy giảm miễn dịch ở người, làm cho cơ thể suy giảm khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh (10). - AIDS là chữ viết tắt của cụm từ tiếng Anh “Accquired Immune Deficiency Syndrome” là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải do HIV gây ra, thường được biểu hiện thông qua các nhiễm trùng cơ hội, các ung thư và có thể dẫn đến tử vong (10).
- Nhiễm trùng cơ hội là nhiễm trùng xảy ra do cơ thể bị suy giảm miễn dịch vì bị nhiễm HIV (10). - Hành vi nguy cơ cao là hành vi dễ làm lây nhiễm HIV như quan hệ tình dục không an toàn, dùng chung bơm kim tiêm và những hành vi khác dễ làm lây nhiễm HIV (10). - Giám sát dịch tễ học HIV/AIDS là việc thu thập thông tin định kỳ và hệ thống về các chỉ số dịch tễ học HIV/AIDS của các nhóm đối tượng có nguy cơ khác nhau để biết được chiều hướng và kết quả theo thời gian nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS (10). - Giám sát trọng điểm HIV/AIDS là việc thu thập thông tin thông qua xét nghiệm HIV theo định kỳ và hệ thống trong các nhóm đối tượng được lựa chọn để theo dõi tỷ lệ và chiều hướng nhiễm HIV qua các năm nhằm cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, dự phòng, khống chế và đánh giá hiệu quả các biện pháp phòng, chống HIV/AIDS (10).
5 - Xét nghiệm HIV là việc thực hiện các kỹ thuật chuyên môn nhằm xác định tình trạng nhiễm HIV trong mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể (10). - HIV dương tính là kết quả xét nghiệm mẫu máu, mẫu dịch sinh học của cơ thể người đã được xác định nhiễm HIV (10). - Nhóm giáo dục đồng đẳng là những người tự nguyện tập hợp thành một nhóm để thực hiện công tác tuyên truyền, vận động và giúp đỡ những người có cùng cảnh ngộ (10). Giới tính và Giới 1.
Giới tính Giới tính (sex) là thuật ngữ dùng để chỉ sự khác biệt sinh học giữa phụ nữ và nam giới (hay trẻ em trai và trẻ em gái) (11). Phụ nữ: có buồng trứng và mang thai; tiết sữa cho con bú; có âm đạo (11). Nam giới: có tinh hoàn và tinh trùng; mọc râu rậm ở cằm có dương vật (11). Sự khác biệt về giới tính được biểu hiện trước hết ở cấu tạo cơ thể, đặc điểm thể chất và sinh lý, chức năng sinh sản của phụ nữ và nam giới (11).
Các đặc điểm sinh học của phụ nữ hoặc nam giới được hình thành ngay từ khi sinh ra (bẩm sinh), không thay đổi theo thời gian (trừ trường hợp có sự can thiệp của tiến bộ khoa học) và các đặc điểm này có sự giống nhau giữa các nhóm dân tộc và các vùng địa lý (11). Khi một người nam giới được phẩu thuật chuyển thành phụ nữ, nhìn bên ngoài thì họ có vóc dáng của phụ nữ nhưng không thể có buồng trứng, không thể mang thai và tiết sữa. Giới Giới (gender) Là thuật ngữ dùng để chỉ các đặc điểm xã hội của phụ nữ và nam giới trong các mối quan hệ xã hội. Các đặc điểm này bao gồm vai trò, vị trí, trách nhiệm của phụ nữ và nam giới trong các mối quan hệ xã hội (11).
Ví dụ: Nam giới phải mạnh mẽ giữ vai trò trụ cột kinh tế trong gia đình, hôn nhân, quan hệ tình dục với phụ nữ. Ngược lại nữ giới phải dịu dàng, chăm chỉ, chăm sóc gia đình, giỏi nội trợ. Định kiến giới Là nhận thức, quan điểm, thái độ, nhận định, đánh giá chưa đúng, thiên lệch hoặc tiêu cực của cộng đồng về đặc điểm, vi trí, vai trò, trách nhiệm, năng lực củaphụ nữ và nam giới trong các mối quan hệ xã hội. Định kiến giới thường giới hạnở những gì cộng đồng mong muốn hoặc cho phép nam giới hay phụ nữ thực hiện trong các quan hệ xã hội (11).
Ví dụ: phụ nữ nấu nướng tốt hơn nam giới; nam giới không tham gia vào các công việc lặt vặt trong gia đình (giặt giũ, chăm con) vì quan niệm cho rằng đây là công việc của phụ nữ. Theo quan niệm nam giới là người làm kinh tế tạo cơ sở vật chất trong gia đình, người làm việc nặng, duy trì dòng họ còn nữ giới là người quản lí chi tiêu trong gia đình, người chăm sóc gia đình, làm việc nhẹ, không có vai trò trong duy trì dòng họ, chỉ có vai trò tại gia đình (11). Hành vi tình dục (sexual bihaviour) Thuật ngữ “nam có quan hệ tình dục đồng giới” được sử dụng cho tất cả nam giới có quan hệ tình dục với nam giới khác, cho dù người đó có đặc tính tình dục như thế nào. Nhiều người nam có quan hệ tình dục với nam giới khác, nhưng vẫn tự nhận là người có khuynh hướng tình dục đồng giới hoặc tình dục với cả hai giới (bisexual).
Những người này có thể vẫn quan hệ tình dục qua đường hậu môn hoặc chỉ quan hệ tình dục với nam giới khác vì được trả tiền hoặc do hoàn cảnh thuận tiện (12). Có thể phân loại nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) theo nhiều cách: Theo đặc tính tình dục (đồng tính nam (gay), đồng tính (homosexual), tình dục khác giới (Heterosexual); tình dục cả hai giới (Bisexual), chuyển đổi giới tính hoặc những khái niệm tương tự) mà không quan tâm đến hành vi tình dục (12); Theo thừa nhận và công khai về đặc tính tình dục (công khai là đồng tính nam hoặc còn ẩn giấu) (12); Theo bạn tình (nam/ nữ hoặc chuyển đổi giới tính) (12); 7 Theo các lý do để chọn lựa bạn tình (ý thích tự nhiên, bị cưỡng ép hoặc chịu áp lực, được thúc đẩy làm mại dâm, do hoàn cảnh thuận tiện, hoặc chỉ là vui chơi, phải sống trong môi trường toàn nam giới) (12); Theo vai trò trong các thực hành tình dục cụ thể (cho, nhận, cả cho cả nhận, không có vai trò nào, tình dục qua đường miệng, thủ dâm cho nhau hoặc những hành động khác) (12); Theo đặc tính vai trò và hành vi có liên quan đến giới (nam hay nữ, tính nam hoặc tính nữ, y phục giống nữ hoặc y phục theo giới tính đang mang) (12).Tình hình nhiễm HIV của MSM trên Thế giới Tính đến thời điểm hiện tại vẫn chưa có thuốc điều trị và vắc xin phòng bệnh đặc hiệu nên các biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế đến mức tối đa tác hại và sự lan truyền của HIV ra cộng đồng là dự phòng sự lây lan HIV ngoài cộng đồng và có các biện pháp can thiệp hữu hiệu. Năm 2013 ước tính toàn thế giới có 35 triệu người nhiễm HIV trên toàn cầu, có 2.1 triệu người mới nhiễm năm 2013 số người nhiễm HIV đã giảm so với những năm trước, ít hơn 15% so với năm 2009. Dịch tập trung ở các nhóm đối tượng nguy cơ cao.
Tỷ lệ nhiễm HIV ở Nam quan hệ tình dục đồng giới ở các khu vực Châu Mỹ, Châu Âu, Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương có xu hướng tăng (13). Trong năm 2014 ước tính có 1.4 triệu ca nhiễm mới, có 63% là nữ. Số người mới nhiễm ở Đông Âu và Trung Á tăng 30% từ năm 2000 đến năm 2014 phần lớn do người tiêm chích ma túy. Ở Trung Đông và Bắc Phi phát hiện nhiễm HIV gia tăng đáng kể từ năm 2000 trong nhóm phụ nữ mại dâm, nam quan hệ tình dục đồng giới và bạn tình của họ.
Ở Châu Á và Thái Bình Dương số người nhiễm HIV cũng tăng nhẹ từ năm 2010 đến nay. Ở Bắc Mỹ và Tây Âu đang phải đối mặt với dịch bệnh tăng trở lại trong các nhóm MSM, phụ nữ bán dâm, NCMT và bạn tình của họ (14). Một nghiên cứu về tỷ lệ xét nghiệm HIV trong nhóm MSM ở Trùng Khánh Trung Quốc năm 2010 tỷ lệ nhiễm HIV là 11,7%. Độ tuổi trung bình của lần quan hệ tình dục đầu tiên với một người đàn ông là 20 tuổi (IQR: 18-23).
Hơn một người bạn tình nam trong sáu tháng qua 56%, có 18% hiện đang sống với bạn tình nam. 8 Nghiên cứu còn cho thấy 51% người tham gia nhận thấy nguy cơ nhiễm HIV cao khi tiếp xúc với người đồng tính. Trong số 477 MSM có bạn tình nam gần đây trong sáu tháng qua, 94% trong số họ đã sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục qua đường hậu môn và 19% luôn sử dụng bao cao su (15). Tỷ lệ nhiễm HIV cao ở nam giới có QHTD đồng giới tại 12 thành phố ở Ấn Độ năm 2013.
Tỷ lệ nhiễm HIV là 7,0% (range:1,7%- 13,1%). Tuổi trung bình là 25 tuổi (16). MSM chiếm tỷ lệ mới nhiễm HIV từ 50% đến 80% ở một số nước trong khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Năm 2015, ước tính tỷ lệ mới nhiễm HIV ở những người trưởng thành tại Philippines là 81% , Thái Lan là 51% (17).
Tại Ba Lan, năm 2016 có 87,3% được chẩn đoán là nhiễm HIV mới phát hiện chủ yếu ở nam giới, ở độ tuổi từ 20- 39 tuổi (71,2%), 81,2% là nam quan hệ tình dục đồng giới nam (18). Nam QHTD đồng giới tại Nhật Bản chiếm 78% trong tổng số các trường hợp nhiễm HIV tại Nhật Bản năm 2016. Hơn 30% trường hợp mới phát hiện nhiễm HIV chuyển sang giai đoạn AIDS hàng năm. Cho thấy một tỷ lệ nhiễm lớn những người nhiễm HIV không biết tình trạng nhiễm của họ (19).
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV tại Brazil tăng cao 21,7% năm 2016. Do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự kỳ thị phân biệt đối xử với người MSM, chính sách tôn giáo, tuổi, trình độ học vấn, họ không đi xét nghiệm HIV (20). Tại Thái Lan, những người đàn ông quan hệ tình dục đồng giới có tỷ lệ nhiễm HIV cao hơn nhiều. Nghiên cứu này cho rằng 40% MSM dương tính với HIV không có quan hệ tình dục với một người đàn ông trong suốt 12 tháng.
Khoảng 4,31% quan hệ tình dục không được bảo vệ, có 12,28% giao hợp qua đường hậu môn và miệng không được bảo vệ. Khoảng 16,6% thực hành hành vi tình dục có nguy cơ (21). Các chuyên gia lo ngại có thể bùng lên một đợt dịch HIV mới ở nhóm đối tượng này (4).