ĐẶT VẤN ĐỀ Trong một thời gian dài diên tích rừng Việt Nam đã suy giảm nghiêm trọng và liên tục (năm 1943 là 14,3 triệu ha nhƣng đến năm 1993 chỉ còn 9,3 triệu ha). Tuy nhiên trong những năm gần đây diện tích rừng có xu hƣớng tăng rõ rệt (năm 1995 diện tích rừng toàn quốc tăng lên 12,61 triệu ha, độ che phủ đạt 37%, trong đó rừng tự nhiên có 10,28 triệu ha, rừng trồng 2,33 triệu ha) nhƣng chất lƣợng rừng ngày càng giảm sút, năng suất không cao và chất lƣợng rừng còn chƣa đƣợc cải thiện. Trƣớc thực tế mất rừng và các nhu cầu sử dụng gỗ, để đảm bảo an ninh môi trƣờng cũng nhƣ nhu cầu phát triển bền vững của đất nƣớc, trong những năm qua chính phủ Việt Nam bằng lỗ lực của mình và sự giúp đỡ của các tổ chức phi chính phủ đã đầu tƣ khá lớn vật tƣ, tiền vốn để trồng rừng, phục hồi và phát triển rừng thông qua các chƣơng trình mục tiêu nhƣ: Chƣơng trình 327, dự án 661 và các nguồn vốn khác. Đồng thời đã có những chính sách, chiến lƣợc nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng (Nguyễn Đức Khiển, 2005).
Hiện nay tại Xã Phúc Thịnh huyện Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang, cũng nhƣ nhiều xã khác tại huyện Chiêm Hóa, ngƣời dân đang phủ xanh đất trống đồi trọc bằng các cây lâm nghiệp nhƣ: Keo tai tƣợng, Keo lá tràm, Bạch đàn… và đang có xu hƣớng mở rộng rừng trồng. Việc mở rộng rừng trồng đã đem lại nguồn thu nhập cho ngƣời dân nhƣng cũng làm thu hẹp diện tích rừng tự nhiên, làm suy giảm số lƣợng các loài cây bản địa đặc biệt là các loài quý hiếm. Trám đen là loài cây bản địa đa tác dụng và có giá trị kinh tế cao và bảo tồn (Hùng et al.,2007, Hoàng et al. Tại Việt Nam cây phân bố khá rộng ở các tỉnh phía Bắc và phía Nam của Việt Nam.
Các tỉnh phía Bắc có nhiều Trám đen phân bố là: Tuyên Quang, Phú Thọ, Bắc Giang, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Thanh Hoá, Nghệ An, Quảng Bình. Các tỉnh phía Nam có Trám đen phân bố là: Quảng Nam, Đắk Lắk và Khánh Hoà. gỗ 1 Trám đen dùng xẻ ván, làm nhà. Nhựa Trám đen thơm ngát dễ cháy dùng để chế biến sơn, vecni, xa phòng, dầu thơm và làm hƣơng.
Quả Trám đen ngon nhất trong các loài trám, dùng để: kho cá kho thịt đồ xôi, có thể muối để ăn dần, quản Trám đen dùng giải độc cá chữa ăn nhầm cá nóc cố độc, ăn phải cá thối, hóc xƣơng cá, chữa nứt nẻ da do khô lạnh lở ngứa nhất là ở miệng. Rễ dùng để trị phong thấp đau lƣng gối tê liệt cử động. Lá trị cảm mạo, viêm đƣơng hô hấp, viêm phổi, ghẻ lở. Trám đen mang nhiều đặc điểm quan trọng cho khoa học và là loài cây tiềm năng có thể ứng dụng trong lâm nghiệp, trồng rừng hay có thể phát triển nghiên cứu.
Từ thực tiễn nêu trên tôi chọn đề tài: “Thực trạng loài Trám đen (Canarium tramdenum Dai & Yakovl) tại Xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang”. Nhằm góp phần nâng cao hiểu biết, đề xuất hƣớng phát triển và bảo tồn loài cây này tại xã Phúc Thịnh, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. 2 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới 1.
Nghiên cứu về sinh thái học thực vật Các phƣơng pháp thực nghiệm về sinh thái học nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa các loài, phƣơng pháp điều tra đánh giá đƣợc trình bày trong “thực nghiệm sinh thái học’’ của Stephen, D. Lache (1987) đã đƣợc chỉ rõ vấn đề nghiên cứu trong sinh thái học thực vật nhƣ sự thích nghi của các điều kiện: dinh dƣỡng khoáng, ánh sáng, chết độ nhiệt, chế độ ẩm, nhịp điệu khí hậu.Odum (1978) đã phân chia ra sinh học cá thể và sinh thái học quần thể. Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống và tập tính cũng nhƣ khả năng thích nghi với mỗi trƣờng đƣợc đặc biệt chú ý. Ngoài ra mối quan hệ giữa các yếu tố sinh thái, sinh trƣởng có thể định lƣợng bằng các phƣơng pháp toán học thƣờng gọi là mô phỏng, phản ánh các đặc điểm, quy luật phức tạp trong tự nhiên.
Trong học thuyết các kiểu rừng của G.Môrôdôp đã hình thành lý luận cơ bản về sinh thái rừng và các kiểu rừng: “Đời sống của rừng có thể đƣợc hiểu trong mối quan hệ với điều kiện hoàn cảnh và trong đó quần xã thực vật rừng tồn tại và quần xã này luôn chịu tác động trực tiếp của các yếu tố sinh thái trong hoàn cảnh đó”. Ông cho rằng điều kiện tiên quyết, quyết định hình thành rừng là đặc điểm sinh thái học của loài gỗ. Trong nghiên cứu sinh thái học nhằm quản lý rừng bền vững, một nhận xét mà nhiều nhà lâm học biết đến là: Trong các kiến thức khoa học về các hệ sinh thái rừng còn chƣa hoàn chỉnh, việc xác định các hiểu biết về mặt lâm học, sinh thái học nhằm quản lý rừng tự nhiên theo cách giữ vừng một cái nguyên vẹn là có thể chấp nhận đƣợc và có thể áp dụng cho tất cả các kiểu rừng khác nhau kể cả rừng mƣa nhiệt đới ẩm. 3 Vào đầu thế kỷ 20, nhà bác học ngƣời Nga V.
Đôcuchaep đã chỉ ra rằng: phạm vi phân bố địa lý của thực vật đƣợc xác định bởi điều kiện độ ẩm, khí hậu. điều đó phụ thuộc vào lƣợng mƣa và lƣợc bốc hơi do tác dụng của nhiệt độ. Khi nghiên cứu đặc điểm sinh lý, sinh thái của loài đã có nhiều công trình nghiên cứu về nhu cầu ánh sáng và sự thích nghi của thực vật đối với tình trạng thiếu nƣớc. Theo đó sự thích nghi với điều kiện có 3 kiểu: một – thích nghi kiểu đã quen, hai – thích nghi do cấu tạo kiểu hậu sinh, ba – có tính chịu đựng đƣợc tác dụng của mất nƣớc.
Đánh giá đƣợc mức độ ƣa sáng, chịu bóng của cây từ đó có biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp lý thì phải xác định đƣợc nhu cầu ánh sáng của từng loài và đã đƣợc nhiều nhà khoa học nghiên cứu nhƣ: I. Nghiên cứu về sinh thái rừng Tái sinh rừng là một quá trình sinh học mang tính đặc thù của hệ sinh thái rừng, biểu hiện của nó là sự xuất hiện của một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi có hoàn cảnh rừng: Dƣới tán rừng, chỗ trống, đất rừng sau khi khai thác, đất rừng sau nƣơng rẫy. Vai trò lịch sử của lớp cây con này thay thế cây già cỗi. Vì vậy tái sinh rừng hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng chủ yếu là tầng cây gỗ.
Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu thì hiệu quả tái sinh rừng đƣợc xác định bởi mật độ, tổ thành loài cây, cấu trúc tuổi, chất lƣợng cây con, đặc điểm phân bố. Các chuyên gia sinh thái học đã khẳng định rừng là hệ thái hoàn chỉnh nhất. Thực vật rừng có sự biến động cả về chất lƣợng khi yếu tố ngoại cảnh thay đổi. Rừng cây và con ngƣời có quan hệ mật thiết với nhau, nghiên cứu tái sinh rừng tự nhiên đã trải qua hàng trăm năm, nhƣng ở rừng nhiệt đới vấn 4 đề này đƣợc đề cập từ năm 1930 trở lại đây [P.
Ở rừng nhiệt đới số lƣợng loài cây trên một đơn vị diện tích quá lớn, nên kinh doanh tất cả các loài cây đó rất có thể mang lại hiệu quả không mong muốn. Trong thực tiến lâm sinh ngƣời ta chỉ khảo sát những loài cây có giá trị kinh tế cao và đáp ứng nhu cầu thị trƣờng. Có hai nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến tái sinh tự nhiên đó là: Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hƣởng đến tái sinh rừng không có sự can thiệp con ngƣời và nhóm nhân tố ảnh hƣởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con ngƣời. Nhóm nhân tố sinh thái ảnh hưởng đến tái sinh rừng không có sự can thiệp của con người.
Nhân tố sinh thái đƣợc nhiều tác giả quan tâm và tìm hiểu sự thiếu hụt ánh sáng của cây con dƣới tán rừng. Nếu ở trong rừng, cây con chết vì thiếu nƣớc thì cũng không nên loài trừ do thiếu ánh sáng. Trong rừng mƣa nhiệt đới, sự thiếu hụt ánh sáng ảnh hƣởng chủ yếu đến phát triển đến cây con, còn đối với sự này mầm và sự phát triển nảy mầm và phát triển mầm non thƣờng không rõ (Baur G, N 1962). Khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, các tác giả nhận định tầng cây cỏ và cây bụi đã ảnh hƣởng tới cây tái sinh các loài cây gỗ.
Ở quần thể kín tán, tuy thảm cỏ phát triển kém nhƣng cạnh tranh dinh dƣỡng và ánh sáng của chúng vẫn ảnh hƣởng đến cây tái sinh. Những lâm phần đã quan khai thác, thảm cỏ có điều kiên phái sinh mạng mẽ sẽ trở ngại lớn cho cây tái sinh. Trong công trình nghiên cứu mối quan hệ qua lại giữa cây con và quần thể V.G Karpov (1969) (theo Nguyễn Thu Trang, 2009) đã chỉ ra đặc điểm phức tạp trong quan hệ cạnh tranh về dinh dƣỡng của đất, ánh sáng, độ ẩm và tính chất thuần nhất của quan hệ qua lại giữa các thực vật tùy thuộc đặc tính sinh học, vật học, tuổi và điều kiện sinh thái của quần thể thực vật.Nakhteenko cho rằng sự trùng hợp cao của sự hấp thụ dinh dƣỡng giữa hai loài có thể gây cho 5 nhau sự kìm sinh trƣởng và làm tăng áp lực cạnh trang giữa hai loài (theo Nguyễn Thu Trang, 2009). Trong đa số các nghiên cứu tái sinh tự nhiên của rừng, ngƣời ta điều nhận thấy rằng cỏ và cây bụi, qua thu nhận ánh sáng, độ ẩm và các nguyên tố dinh dƣỡng khoáng của tầng mặt đất và ảnh hƣởng xấu đến cây tái sinh của các loài cây gỗ.
Những quần thụ kín tán, đất khô và nghèo dinh dƣỡng khoáng, thảm cỏ phái triển kém nên ảnh hƣởng của nó đến các cây gỗ non không đáng kể. Ngƣợc lại những lâm phần thƣa, rừng đã qua khai thác thảm cỏ có điều kiện phát sinh mạnh mẽ, trong điều kiện này chúng là nhân tố gây trở ngại rất lớn cho tái sinh rừng Bannikov, 1967; Vipper 1973 theo Nguyễn Thu Trang (2009). Cây rừng ra hoa mang tính định kì rõ rệt, cây rừng ra hoa quả nhiều hay ít bị ảnh hƣởng sâu sắc của thời tiết, nhiều nhà lâm học cho rằng biến động của mùa hoa quả cây rừng cần nghiên cứu theo các vùng địa lí khác nhau và các khía cạnh cấu trúc, độ dày, độ khép tán, tuổi lâm phần. Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến tái sinh rừng có sự can thiệp của con người.