CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHỞI NGHIỆP DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ 1. Tổng quan về doanh nghiệp vừa và nhỏ 1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. (Theo Điều 4, Luật doanh nghiệp nước CHXHCNVN) [01tr12] Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30 tháng 6 năm 2009, Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau: Bảng 1.
Tiêu chí phân loại quy mô doanh nghiệp Doanh nghiệp Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Quy mô siêu nhỏ Khu vực Tổng Số lao Tổng nguồn Số lao động Số lao động nguồn vốn động vốn từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 I. Nông, lâm 10 người trở 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến nghiệp và thủy sản xuống trở xuống 200 người tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 200 II. Công nghiệp và 10 người trở 20 tỷ đồng người đến đồng đến 100 người đến xây dựng xuống trở xuống 200 người tỷ đồng 300 người từ trên 10 từ trên 10 tỷ từ trên 50 III. Thương mại và 10 người trở 10 tỷ đồng người đến đồng đến 50 người đến dịch vụ xuống trở xuống 50 người tỷ đồng 100 người (Nguồn: Phụ lục Nghị định 56/2009/NĐ-CP) 1.
Các tiêu chí phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ Ở mỗi nước, do mục tiêu phát triển và điều kiện khác nhau nên tiêu chí 5 phân loại cũng khác nhau. Thông thường có hai nhóm tiêu chí phổ biến dùng để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ: Tiêu chí định tính và tiêu chí định lượng. Nhóm tiêu chí định tính Dựa trên đặc tính cơ bản của doanh nghiệp vừa và nhỏ như: Chuyên môn hoá thấp, ít đầu mối quản lý, mức độ phức tạp của quản lý thấp… Các tiêu chí này có ưu thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó chúng thường được dùng làm cơ sở để tham khảo trong kiểm chứng mà ít được sử dụng phân loại trong thực tế.
Nhóm tiêu chí định lượng Nhóm này sử dụng các tiêu chí như số vốn, số lao động, giá trị tài sản, doanh thu, lợi nhuận… Trong đó: - Tiêu chí về số lao động: Tiêu chí về số lao động được đa số các nước áp dụng để phân loại DNVVN. Tuy nhiên, số lượng lao động để phân loại doanh nghiệp ở mỗi nước có một tiêu chí khác nhau tùy vào sự phát triển quy mô kinh tế của từng nước. - Tiêu chí về vốn: Một số nước tiêu chí về vốn được đưa vào như là tiêu chí thứ 2 để xác định quy mô của doanh nghiệp. Tùy theo mỗi nước có những quy định khác nhau.
Tuy nhiên mục tiêu chung vẫn là nhằm hỗ trợ những doanh nghiệp mà với số vốn đó không có khả năng trang trải các chi phí đầu tư cơ bản và chi phí duy trì hoạt động bình thường, vì vậy doanh nghiệp được hỗ trợ khắc phục những khó khăn. - Tiêu chí về doanh thu: Tiêu chí này không được sử dụng phổ biến vì việc xác định nó phức tạp và phạm vi của doanh nghiệp trong từng ngành cũng rất khác nhau. Vì vậy phân loại theo tiêu chí này phức tạp mà đôi khi không mang lại hiệu quả. Ưu thế của doanh nghiệp vừa và nhỏ Doanh nghiệp vừa và nhỏ có những lợi thế rõ ràng, đó là khả năng thoả mãn nhu cầu có hạn trong những thị trường chuyên môn hoá, khuynh hướng 6 sử dụng nhiều lao động với trình độ lao động kỹ thuật trung bình thấp, đặc biệt là rất linh hoạt, có khả năng nhanh chóng thích nghi với các nhu cầu và thay đổi của thị trường.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể bước vào thị trường mà không thu hút sự chú ý của các doanh nghiệp lớn (do quy mô doanh nghiệp nhỏ), sẵn sàng phục vụ ở những nơi xa xôi nhất, những khoảng trống vừa và nhỏ trên thị trường mà các doanh nghiệp lớn không đáp ứng vì mối quan tâm của họ đặt ở các thị trường có khối lượng lớn. Doanh nghiệp vừa và nhỏ là loại hình sản xuất có địa điểm sản xuất phân tán, tổ chức bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ nên nó có nhiều điểm mạnh: - Dễ dàng khởi sự, bộ máy chỉ đạo gọn nhẹ và năng động, nhạy bén với thay đổi của thị trường. Doanh nghiệp chỉ cần một số vốn hạn chế, mặt bằng không lớn, các điều kiện sản xuất đơn giản là đã có thể bắt đầu hoạt động. Vòng quay sản phẩm nhanh nên có thể sử dụng vốn tự có, hoặc vay bạn bè.
Những vấn đề cơ bản về khởi nghiệp 1. Khái niệm về khởi nghiệp Người khởi nghiệp được hiểu là người có can đảm chấp nhận thách thức, chấp nhận rủi ro, bỏ vốn hay hùn vốn để kinh doanh trên cơ sở dám cạnh tranh và tạo ra giá trị gia tăng cho xã hội. Bằng hành động đó, người khởi nghiệp hy vọng làm giàu hoặc chí ít cũng tự chủ về kinh tế. Tuy vậy, cũng bằng hành động dám chịu rủi ro, người khởi nghiệp có thể chịu kết cục phá sản, kinh doanh èo uột với lợi nhuận thấp hơn lãi suất tín dụng… vậy khởi nghiệp có xác suất thành công và thất bại.
Khởi nghiệp – Startup là người có ý định tự mình có một công việc kinh doanh riêng, người muốn tự mình làm và quản lý tự kiếm thu nhập cho mình. Người cung cấp và phát triển một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, mua bán lại một sản phẩm hay cửa hàng đang hoạt động hoặc hoạt động sinh lợi nào đó. Như vậy: “Khởi nghiệp là một tổ chức của con người được thiết kế 7 nhằm cung cấp sản phẩm và dịch vụ trong những điều kiện không chắc chắn nhất”.[09tr23] Có sự phân biệt giữa khởi nghiệp và Startup: thuật ngữ “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” để chỉ “startup” và để phân biệt với khởi nghiệp thông thường như mở quán phở hay quán bán quần áo. Sự phân biệt này chỉ có nghĩa là nên phân biệt giữa tính chất của hai loại hình khởi nghiệp để có thể hỗ trợ một cách sát sao nhất, phù hợp nhất với tính chất của từng loại hình mà thôi.
Ví dụ, khi nhắc đến việc thu hút đầu tư mạo hiểm thì chỉ liên quan đến “khởi nghiệp đổi mới sáng tạo” hay “startup” mà thôi, chứ không một quỹ đầu tư mạo hiểm nào lại đầu tư cho doanh nghiệp khởi nghiệp thông thường cả. Đặc trưng của khởi nghiệp Các cuộc khảo sát cho thấy những người lập nghiệp tìm kiếm những thời cơ để tạo vận mệnh cho chính mình, Họ luôn cảm thấy hạnh phúc mặc dù làm việc nhiều hơn, trách nhiệm nhiều hơn. Khi khởi nghiệp họ có cơ hội để thực hiện những điều mà khi đi làm thuê họ khó có được, đó là: - Làm chủ trong công việc, có cơ hội thực hiện những sở trường trong kinh doanh. - Cơ hội thu được những khoản lợi nhuận lớn, đầu tư vào những lĩnh vực yêu thích.
- Được hưởng trọn vẹn thành quả lao động mà mình tạo ra. Bên cạnh đó, có rất nhiều trở ngại cho các nhà doanh nghiệp, nhất là những người khởi nghiệp, vì không chỉ làm tròn trách nhiệm của mình mà còn liên đới tới nhiều người, chịu nhiều trách nhiệm trước pháp luật, trước người lao động, liên đới với xã hội…và phải lường trước các rủi ro có thể xảy đến. Cơ sở lý luận về khởi nghiệp kinh doanh Khởi nghiệp kinh doanh là một nội dung không mới trong các quốc gia có nền kinh tế thị trường. Song ở Việt Nam thì mới được quan tâm nghiên 8 cứu và áp dụng khoảng trên 30 năm trở lại đây.
Từ năm 1986 trở về trước nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp; trong nền kinh tế lúc đó chủ yếu là các cơ sở quốc doanh và tập thể, chỉ có một bộ phận rất nhỏ các hộ kinh tế cá thể tồn tại ở đô thị nhưng không được khuyến khích Chỉ sau khi Nước ta thực hiện công cuộc đổi mới được bắt đầu bằng Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) với những luận điểm cơ bản: - Phát triển nền kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. - Phân định và làm rõ vai trò quản lý Nhà nước về kinh tế với quyền tự chủ trong điều hành và trách nhiệm của đơn vị, tổ chức kinh tế. - Thực hiện cải cách hành chính, phát huy quyền dân chủ của nhân dân, xây dựng chính quyền Nhà nước trong sạch vững mạnh để hướng tới mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là: dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh. Cũng trong thời kỳ này đã xuất hiện nhiều thành phần kinh tế như: Kinh tế thuộc sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể,Tư bản tư nhân, Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, kinh tế hỗn hợp.
Các loại hình kinh tế này hoạt động dưới các hình thức Tổng công ty 90, 91, công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên (Sở hữu nhà nước); Công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty liên danh, Doanh nghiệp tư nhân (thuộc sở hữu tư nhân), Doanh nghiệp FDI (thuộc sở hữu vốn đầu tư nước ngoài); Hợp tác xã, Liên hiệp hợp tác xã (thuộc sở hữu tập thể). Từ những thực tiễn trên đã buộc các chủ sở hữu (đặc biệt là các chủ sở hữu tư nhân) phải quan tâm nghiên cứu cả về lý luận và thực tiễn về khởi nghiệp cũng như vận hành các doanh nghiệp do mình làm chủ với kỳ vọng hạn chế các rủi ro, tạo được lợi nhuận cao và ngày càng phát triển. Có rất nhiều lý thuyết liên quan đến khởi dựng và tổ chức quản trị một 9 doanh nghiệp như lý thuyết về marketing, lý thuyết về tổ chức doanh nghiệp, lý thuyết về quản trị tài chính, nhân sự.