mở đầu cho sự ra đời của lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ ở nước ta. Tháng 8 năm 1997, Bảo Việt thành lập Công ty bảo hiểm nhân thọ Miền Nam. Cho đến thời điểm này, Công ty bảo hiểm nhân thọ Hà Nội( được đổi tên từ Công ty bảo hiểm Nhân Thọ) và Công ty bảo hiểm nhân thọ Miền nam là hai doanh nghiệp duy nhất hoạt động trên thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam Năm 1998, Bảo Việt thành lập phòng bảo hiểm nhân thọ tại tất cả các công ty thành viên của Bảo Việt ở các địa phương khác trong cả nước. Năm 1999, bắt đầu có thêm một số công ty bảo hiểm 100% vốn nước ngoài và công ty liên doanh gia nhập thị trường bảo hiểm nhân thọ Việt Nam.
Năm 2000 và năm 2001, Bảo Việt tiếp tục thành lập thêm 59 công ty bảo hiểm nhân thọ thành viên tại các địa phương khác trong cả nước, nâng tổng số công ty thành viên của Bảo Việt lên tới 61 đơn vị. Bắt đầu từ đây, Bảo Việt đã có mạng lưới bảo hiểm nhân thọ phủ khắp toàn quốc, đảm bảo phục vụ nhanh chóng, thuận tiện tất các nhu cầu bảo hiểm nhân thọ của mọi tầng lớp nhân dân ở mọi miền, vùng trong cả nước. Cùng với sự lớn mạnh của Bảo Việt cũng như sự gia nhập ngày càng nhiều của các công ty BHNT nước ngoài, doanh thu phí BHNT toàn thị trường đã tăng lên nhanh chóng. Sv: Vi Quốc Hưng Lớp: CQ49/03.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 7 Học viên tài chính Biểu: Doanh thu phí BHNT toàn thị trường(2001-2014) 30000 27430 25000 23245 20000 17916 16025 15000 13792 11857 10339 9437 * 10000 8130 8495 7710 6441 5000 4645 2784 0 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 Nguồn: Hiệp hội bảo hiểm Việt nam 1.
Những đặc trưng của Bảo hiểm nhân thọ 1. BHNT là loại hình bảo hiểm duy nhất có thể chi trả cho dù có rủi ro hay không có rủi ro xảy ra – vừa mang tính tiết kiệm vừa mang tính rủi ro. Đây là một trong những đặc điểm khác nhau cơ bản giữa bảo hiểm nhân thọ với bảo hiểm phi nhân thọ. Mỗi người mua bảo hiểm nhân thọ sẽ định kỳ nộp một khoản tiền nhỏ (gọi là phí bảo hiểm) cho công ty bảo hiểm, ngược lại công ty bảo hiểm có trách nhiệm trả một số tiền lớn( gọi là số tiền bảo hiểm) cho người hưởng quyền lợi bảo hiểm như đã thỏa thuận từ trước khi có các sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Tính tiết kiệm của BHNT thể hiện ở chỗ: số tiền bảo hiểm được trả khi người được bảo hiểm đạt đến một độ tuổi nhất định và Sv: Vi Quốc Hưng Lớp: CQ49/03.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 8 Học viên tài chính được ấn định trong hợp đồng. Hoặc số tiền này được trả cho thân nhân và gia đình người được bảo hiểm khi người này không may bị tử vong ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền rất nhỏ qua việc đóng phí bảo hiểm. Số tiền này sẽ giúp những người còn sống trang trải những khoản chi phí cần thiết như: mai táng, thuốc men, chi phí giáo dục cho con cái…đây chính là thể hiện tính rủi ro của BHNT. Hơn thế nữa, tính tiết kiệm của BHNT còn được thể hiện ngay trong từng cá nhân, từng gia đình một cách thường xuyên, có kế hoạch và có kỷ luật.
Nội dung tiết kiệm khi mua BHNT khác với các hình thức tiết kiệm khác ở chỗ, người bảo hiểm đảm bảo trả cho người tham gia bảo hiểm hay người thân của họ một số rất lớn ngay cả khi họ mới tiết kiệm được một khoản tiền nhỏ. Có nghĩa là khi người được bảo hiểm không may gặp rủi ro trong thời hạn bảo hiểm đã được ấn định thì những người thân của họ sẽ nhận được những khoản trợ cấp hay số tiền bảo hiểm từ công ty bảo hiểm. Điều này càng thể hiện rõ tính rủi ro trong BHNT. BHNT đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm.
Trong khi các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ chỉ đáp ứng được một mục đích là góp phần khắc phục hậu quả khi đối tượng tham gia bảo hiểm gặp sự cố, từ đó góp phần ổn định tài chính cho người tham gia, thì BHNT lại là loại hình bảo hiểm đa mục đích, đáp ứng được rất nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm. Mỗi mục đích lại được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng. Chẳng hạn, HĐBH hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng, từ đó góp phần ổn định cuộc sống của họ lúc già yếu khi mà thu nhập từ lao động của họ bị giảm đi rất nhiều và mức trợ cấp từ BHXH còn thấp. Hay HĐBH tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại cho gia đình một khoản tiền khi họ bị tử vong.
Điều này đặc biệt có ý nghĩa đối với người được bảo hiểm là người trụ cột trong gia đình bởi vì khoản tiền này sẽ giúp họ thực hiện các trách nhiệm đối với gia đình như: trang trải nợ nần, phụng dưỡng cha mẹ già yếu, lo cho con cái…HĐBH hỗn hợp hướng tới các mục đích tiết kiệm để tạo lập quỹ giáo dục cho con cái, khởi nghiệp kinh doanh, mua sắm tài sản, giữ gìn tài sản cho Sv: Vi Quốc Hưng Lớp: CQ49/03.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 9 Học viên tài chính thế hệ sau…Ngoài ra, HĐBH nhân thọ đôi khi còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn hoặc BHNT tín dụng thường được bán cho các đối tượng đi vay để họ mua xe hơi, đồ dùng gia đình hoặc cho các mục đích cá nhân khác…Chính vì đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau nên loại hình bảo hiểm này có thị trường ngày càng rộng và được rất nhiều người quan tâm. Các loại hợp đồng trong BHNT thường rất đa dạng và phức tạp. Tính đa dạng và phức tạp trong các hợp đồng BHNT thể hiện ở ngay các sản phẩm của nó. Mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, chẳng hạn BHNT hỗn hợp lại có các hợp đồng 5 năm, 10 năm, 15 và 20 năm.
Mỗi hợp đồng với mỗi thời hạn khác nhau, lại có sự khác nhau về STBH, phương thức đóng phí. Chính vì vậy, việc quản lý hợp đồng bảo hiểm nhân thọ là hết sức khó khăn. Ngày nay, tất cả các công ty bảo hiểm nhân thọ trên thế giới đều tập trung phát triển hệ thống công nghệ thông tin để quản lý hợp đồng. Phí BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khác phức tạp.
Sản phẩm BHNT là kết quả của một quá trình phức tạp để đưa sản phẩm đến được với công chúng. Trong đó, người bảo hiểm phải bỏ ra rất nhiều chi phí như chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng…Giá cả của sản phẩm BHNT (phí BHNT) không chỉ phụ thuộc vào những chi phí trên mà còn phụ thuộc vào độ tuổi của người được bảo hiểm, tình hình sức khỏe và nghề nghiệp của họ, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham gia, phương thức thanh toán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát…Vì thời hạn của hợp đồng BHNT là rất dài cho nên khi tính phí bảo hiểm ngoài việc dựa trên cơ sở khoa học, người ta còn phải dựa trên một số giả định cần thiết như nền kinh tế ổn định, lạm phát một con số, không có hợp đồng bảo hiểm hủy bỏ, sự luân chuyển của dòng tiền tệ trong nền kinh tế diễn ra ổn định…Vì thế, quá trình định phí ở đây rất phức tạp, đòi hỏi phải nắm vững đặc trưng của mỗi loại sản phẩm, phân tích dòng tiền tệ, phân tích được chiều hướng phát triển của mỗi sản phẩm trên thị trường nói chung. Sv: Vi Quốc Hưng Lớp: CQ49/03.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 10 Học viên tài chính 1. BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định.
Ở các nước có nền kinh tế phát triển, BHNT ra đời và phát triển từ rất lâu. Trong khi ở một số quốc gia trên thế giới, BHNT lại chỉ mới được triển khai hoặc còn kém phát triển. Lý giải vấn đề này, hầu hết các nhà kinh tế đều thống nhất rằng, cơ sở chủ yếu để BHNT ra đời và phát triển là điều kiện kinh tế- xã hội phải phát triển. Những điều kiện về kinh tế như: - Tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP).
- Tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân 1 đầu người. - Mức thu nhập bình quân. - Tỷ lệ lạm phát. - Tỷ giá hối đoái.
Những điều kiện xã hội bao gồm: - Tuổi thọ bình quân của người dân. - Trình độ học vấn. - Tỷ lệ tử vong của trẻ sơ sinh… Ngoài điều kiện kinh tế- xã hội, thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng không nhỏ đến sự ra đời và phát triển của BHNT. Luật kinh doanh bảo hiểm, các văn bản và qui định có tính pháp lý sẽ là cơ sở mang tính sống còn cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, phải ra đời trước khi ngành bảo hiểm phát triển.
Nó thường đề cập đến các vấn đề như tài chính, đầu tư, hợp đồng, thuế…Chẳng hạn, ở một số nước phát triển như: Anh, Pháp, Đức…Nhà nước thường tạo điều kiện thuận lợi cho BHNT bằng cách có chính sách thuế ưu đãi. Mục đích là nhằm tạo ra cơ hội cho các cá nhân để tiết kiệm, tự mình lập nên quỹ hưu trí, từ đó cho phép giảm bớt phần trợ cấp từ Nhà nước. Không những thế, nó còn giúp đẩy mạnh quá trình huy động tập trung vốn trong các công ty bảo hiểm để từ đó có vốn dài hạn đầu tư cho nền kinh tế. Cũng nhằm những mục đích trên mà ở một số nước ở châu Á như: Ấn Độ, HongKong, Singapore…không đánh thuế doanh thu đối với các nghiệp vụ BHNT.
Ở Việt nam, để khuyến khích người tham gia bảo hiểm nhân thọ, chế Sv: Vi Quốc Hưng Lớp: CQ49/03.02 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Luận văn tốt nghiệp 11 Học viên tài chính độ tài chính-kế toán Việt Nam qui định không đánh thuế giá trị gia tăng(GTGT) đối với nghiệp vụ BHNT. Chính những sự ưu đãi này là đòn bẩy tích cực để BHNT phát triển. Vai trò của Bảo hiểm nhân thọ.