Tài liệu: Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của việt nam giai đoạn 2017 2022

Phân tích tình hình xuất khẩu gạo Việt Nam từ 2017 đến 2022, đánh giá thành tựu, thách thức và xu hướng phát triển ngành lúa gạo quốc gia.

Trường đại học

Trường đại học Thăng Long

Chuyên ngành

Kinh tế quốc tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2024

94
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của xuất khẩu gạo

Xuất khẩu gạo là hoạt động kinh tế quan trọng của Việt Nam, đóng vai trò then chốt trong nền kinh tế quốc dân. Gạo không chỉ là sản phẩm nông nghiệp chủ lực mà còn là mặt hàng xuất khẩu chiến lược, mang lại nguồn vốn ngoại tệ lớn cho đất nước. Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo trong giai đoạn 2017-2022 cho thấy sự biến động đáng kể trên thị trường quốc tế. Hoạt động này góp phần giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu nông dân, cải thiện cuộc sống cộng đồng nông thôn, và thúc đẩy công nghiệp hóa nông nghiệp Việt Nam. Các yếu tố như điều kiện tự nhiên thuận lợi, chính sách hỗ trợ của nhà nước, và nhu cầu thị trường toàn cầu tạo nên những cơ hội phát triển bền vững cho ngành xuất khẩu gạo Việt Nam.

1.1. Định nghĩa xuất khẩu gạo

Xuất khẩu gạo là hoạt động bán hàng gạo từ Việt Nam sang các quốc gia khác nhằm kiếm lợi nhuận. Gạo được xếp vào nhóm sản phẩm nông sản, có giá trị kinh tế cao và nhu cầu tiêu thụ ổn định trên thị trường thế giới. Việt Nam là một trong những nước xuất khẩu gạo lớn nhất thế giới, cạnh tranh với Thái Lan, Ấn Độ, và các nước khác.

1.2. Vai trò kinh tế và xã hội

Hoạt động xuất khẩu gạo tạo nguồn vốn ngoại tệ, hỗ trợ sự phát triển của các ngành công nghiệp khác. Nó giải quyết việc làm cho nông dân, cải thiện thu nhập, và nâng cao chất lượng cuộc sống. Ngoài ra, xuất khẩu gạo Việt Nam còn giúp tăng cường quan hệ kinh tế đối ngoại và xây dựng hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế.

II. Thực trạng sản xuất và xuất khẩu gạo Việt Nam 2017 2022

Giai đoạn 2017-2022 là khoảng thời gian quan trọng để đánh giá thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của Việt Nam. Sản lượng lúa gạo Việt Nam duy trì ở mức cao, với khoảng 45-48 triệu tấn hạt gạo hàng năm. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu gạo biến động theo chu kỳ giá thế giới, dao động từ 2-3 tỷ USD mỗi năm. Các yếu tố như biến đổi khí hậu, dịch bệnh cây trồng, và những biến động chính sách nông nghiệp đã ảnh hưởng đến sản lượng xuất khẩu gạo. Chất lượng gạo xuất khẩu được nâng cao thông qua các chứng chỉ quốc tế, đáp ứng tiêu chuẩn phòng chống dịch bệnh và yêu cầu chất lượng khắt khe của các thị trường nhập khẩu.

2.1. Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu

Kim ngạch xuất khẩu gạo Việt Nam trong giai đoạn này biến động từ 2.3 tỷ USD (2017) đến 3.5 tỷ USD (2021), sau đó giảm xuống 2.8 tỷ USD (2022). Sản lượng xuất khẩu gạo đạt cao nhất vào năm 2021 với gần 6.5 triệu tấn, thể hiện vị thế của Việt Nam trên thị trường thế giới.

2.2. Cơ cấu và chất lượng sản phẩm

Cơ cấu xuất khẩu gạo bao gồm gạo thường (chiếm 40-45%), gạo thơm (15-20%), và gạo chất lượng cao. Chất lượng gạo xuất khẩu được nâng cao, tuy nhiên Việt Nam vẫn đối mặt với thách thức cạnh tranh về giá so với các đối thủ khác, đặc biệt là Thái Lan với gạo hương thơm nổi tiếng.

III. Thị trường xuất khẩu gạo và đối thủ cạnh tranh

Các thị trường chính của xuất khẩu gạo Việt Nam bao gồm Philippines, Bangladesh, Đông Nam Á, và một số nước Châu Phi. Philippines là khách hàng lớn nhất, tiêu thụ khoảng 15-20% sản lượng xuất khẩu gạo Việt Nam. Trên bình diện quốc tế, hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam đối mặt với cạnh tranh gay gắt từ Thái Lan, Ấn Độ, Myanmar, và Campuchia. Thái Lan chiếm lợi thế về chất lượng với gạo jasmine nổi tiếng, trong khi Ấn Độ cạnh tranh về giá thành với sản lượng xuất khẩu khvolume lớn. Năng lực cạnh tranh xuất khẩu gạo của Việt Nam dựa vào sự kết hợp giữa chất lượng cải thiện, giá cạnh tranh, và khả năng sản xuất ổn định.

3.1. Các thị trường chính nhập khẩu gạo Việt Nam

Thị trường gạo xuất khẩu Việt Nam tập trung chủ yếu vào các nước có dân số đông và thu nhập trung bình. Philippines, Bangladesh, và Thái Lan là ba thị trường lớn nhất. Trong giai đoạn 2017-2022, xuất khẩu gạo sang Philippines tăng trưởng bền vững, bù đắp cho những suy giảm ở các thị trường khác do biến động giá cả.

3.2. Phân tích đối thủ cạnh tranh

Thái Lan và Ấn Độ là hai đối thủ cạnh tranh gạo xuất khẩu chính của Việt Nam. Ấn Độ chiếm vị thế top thế giới với sản lượng xuất khẩu gạo gấp 2-3 lần Việt Nam, trong khi Thái Lan nổi bật về chất lượng. Myanmar và Campuchia cũng là những đối thủ tiềm năng, mặc dù hiện chưa cạnh tranh mạnh mẽ.

IV. Hạn chế và giải pháp phát triển xuất khẩu gạo

Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo Việt Nam giai đoạn 2017-2022 phơi bày một số hạn chế đáng lo ngại. Thứ nhất, biến đổi khí hậu gây sụt giảm diện tích lúa, đặc biệt ở Đồng bằng sông Cửu Long - vùng chiếm 50% sản lượng gạo cả nước. Thứ hai, chất lượng gạo xuất khẩu còn thấp so với đối thủ, lợi thế chủ yếu là giá rẻ chứ không phải phẩm chất. Thứ ba, cơ sở hạ tầng lưu kho và chế biến chậm hiện đại hóa. Giải pháp cần thiết bao gồm: (1) áp dụng công nghệ canh tác bền vững, (2) nâng cấp chất lượng gạo thơm và gạo hữu cơ, (3) đa dạng hóa thị trường, (4) tăng cường tiêu chuẩn chế biếp và bao gói, (5) phát triển thương hiệu gạo Việt Nam quốc tế.

4.1. Những hạn chế chính trong xuất khẩu gạo

Kim ngạch xuất khẩu gạo bị ảnh hưởng bởi suy giảm diện tích lúa, giảm 10-15% so với năm 2017. Chất lượng gạo xuất khẩu chưa đạt tiêu chuẩn cao như Thái Lan, và giá bán phụ thuộc quá nhiều vào biến động giá cả toàn cầu. Hạ tầng bộ máy chế biến, lưu trữ còn lạc hậu.

4.2. Chiến lược phát triển bền vững

Để thúc đẩy xuất khẩu gạo Việt Nam, cần ưu tiên: (1) phát triển gạo chất lượng cao và gạo chuyên dùng, (2) áp dụng tiêu chuẩn GlobalGAP và chứng chỉ hữu cơ, (3) xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam trên thế giới, (4) mở rộng thị trường sang Châu Âu và Bắc Mỹ, (5) hỗ trợ nhà nông áp dụng nông nghiệp chính xác.

18/12/2025
Thực trạng hoạt động xuất khẩu gạo của việt nam giai đoạn 2017 2022

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ XUẤT KHẨU HÀNG HÓA 1. Một số vấn đề cơ bản về hoạt động xuất khẩu 1. Khái niệm và nhiệm vụ của xuất khẩu hàng hóa - Khái niệm xuất khẩu hàng hóa: Khái niệm xuất khẩu nói chung được rất nhiều công trình nghiên cứu đề cập, phân tích theo từng chủ đích nghiên cứu riêng.

Bùi Xuân Lưu (2001) định nghĩa “ xuất khẩu là việc bán hàng hóa, dịch vụ cho nước ngoài” trong giáo trình Kinh tế ngoại thương. Feenstra and Taylor (2010) đưa ra một định nghĩa khác về xuất khẩu trong giáo trình Thương mại quốc tế đó là “Các quốc gia mua và bán hàng hóa, dịch vụ từ nhau. Xuất khẩu là sản phẩm được bán từ nước này sang nước khác”. Ở đây, xuất khẩu được hiểu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ của một quốc gia với phần còn lại của thế giới thông qua mua bán nhằm khai thác triệt để lợi thế của quốc gia trong phân công lao động quốc tế.

Theo quy định tại Điều 28, Luật Thương mại 2005 về xuất khẩu hàng hóa cụ thể như sau: “ Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hoá được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.” Có nhiều cách hiểu về xuất khẩu hàng hóa, tuy nhiên hiểu một cách khái quát nhất thì xuất khẩu hàng hóa là hàng hóa được sản xuất ở một quốc gia và bán cho người mua ở một quốc gia khác. Xuất phát từ bản chất, xuất khẩu hàng hóa không phải là hoạt động kinh doanh đơn lẻ mà là một hệ thống các hoạt động kinh doanh có tổ chức, dưới sự quản lý giám sát bởi các cấp nhà nước cả ở bên trong lẫn bên ngoài nhằm đem lại các nguồn lợi nhuận, ngoại tệ, đồng thời đẩy mạnh sản xuất, phát triển kinh tế cho các quốc gia. Mục đích của hoạt động này là khai thác được lợi thế của từng quốc gia trong phân công lao động quốc tế. Khi việc trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia đều có lợi thì các quốc gia đều tích cực tham gia mở rộng hoạt động này.

- Khái niệm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa: Thúc đẩy xuất khẩu là một phương thức nâng cao khả năng tiêu thụ hàng hóa, nó bao gồm tất cả các biện pháp của nhà nước và doanh nghiệp nhằm tạo ra những cơ hội và khả năng tăng giá trị cũng như số lượng hàng hóa xuất khẩu ra thị trường nước ngoài. Bản chất của thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa giúp một quốc gia sẽ đẩy nhanh việc chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, tăng kim ngạch xuất khẩu của mình. Đứng trên góc độ của một quốc gia, xuất phát từ chức năng quản lý nhà nước, thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa của quốc gia được hiểu là việc nhà nước áp dụng tổng thể các phương thức để tạo ra các cơ hội và khả năng gia tăng sản lượng và giá trị của hàng hóa được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài, tăng cường việc tiêu thụ hàng hoá tại thị trường nước ngoài. 1 - Hoạt động xuất khẩu hàng hoá có một số nhiệm vụ sau: + Nghiên cứu chiến lược, chính sách và công cụ nhằm phát triển thương mại quốc tế nói chung, hoạt động xuất khẩu nói riêng.

Ra sức khai thác có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước, không đánh giá mình quá cao cũng như không tự ti đánh giá mình quá thấp từ đó bỏ lỡ cơ hội làm ăn với nước ngoài, liên kết và đan xen vào chương trình kinh tế thế giới. + Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu theo hướng ngày càng chứa đựng nhiều hàm lượng chất xám, kỹ thuật và công nghệ đã tăng nhanh khối lượng và kim ngạch xuất khẩu + Tạo ra những mặt hàng, nhóm hàng xuất khẩu có khối lượng và giá trị lớn đáp ứng những đòi hỏi của thị trường và của khách hàng về chất lượng và số lượng, có sức hấp dẫn và khả năng cạnh tranh cao. + Hình thức các ngành, các vùng sản xuất hàng xuất khẩu tạo ra các chân hàng vững chắc, phát triển hệ thống thu mua hàng xuất khẩu + Xây dựng các mặt hàng chủ lực ở phạm vi chiến lược, từ đó có kế hoạch phát triển và mỏ rộng mặt hàng chủ lực. Đặc điểm xuất khẩu hàng hóa Hoạt động xuất khẩu là điều kiện cần thiết để thúc đẩy kinh tế phát triển do đây là mắt xích đầu tiên của chuỗi cung ứng toàn cầu.

Cần có hoạt động đưa hàng hóa ra nước ngoài mới có thể đáp ứng mối quan hệ cung cầu trên toàn cầu. Đây là phương pháp để giải quyết sự dư thừa hàng hóa ở vùng lãnh thổ này cũng như thiếu hụt hàng hóa ở vùng lãnh thổ khác. Đó là vai trò đặc biệt quan trọng của hoạt động xuất khẩu hàng hóa. Hoạt động xuất khẩu là một mặt của hoạt động thương mại quốc tế nên nó cũng có những đặc trưng của hoạt động thương mại quốc tế và liên quan đến các hoạt động thương mại quốc tế khác như bảo hiểm quốc tế, thanh toán quốc tế, vận tải quốc tế.Hoạt động xuất khẩu không giống như hoạt động buôn bán trong nước ở đặc điểm là nó có sự tham gia buôn bán của đối tác nước ngoài, hàng hoá phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ở phạm vi nước ngoài.

Hoạt động xuất khẩu diễn ra trên mọi lĩnh vực, trong mọi điều kiện của nền kinh tế, từ xuất khẩu hàng tiêu dùng cho đến tư liệu sản xuất, máy móc hàng hoá thiết bị công nghệ cao. Tất cả các hoạt động này đều nhằm mục tiêu đem lại lợi ích cho quốc gia nói chung và các doanh nghiệp tham gia nói riêng. Hoạt động xuất khẩu diễn ra rất rộng về không gian và thời gian. Nó có thể diễn ra trong thời gian rất ngắn song cũng có thể kéo dài hàng năm, có thể được diễn ra trên phạm vi một quốc gia hay nhiều quốc gia khác nhau.

Hoạt động xuất khẩu mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia. Nó không chỉ đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp mà còn góp phần thúc đẩy mạnh sản xuất trong nước nhờ tích lũy từ khoản thu ngoại tệ cho đất nước, phát huy tính sáng tạo của các đơn vị kinh 2 Thư viện ĐH Thăng Long tế thông qua cạnh tranh quốc tế. Kinh doanh xuất nhập khẩu còn là phương tiện để khai thác các lợi thế về tự nhiên, vị trí địa lý, nhân lực và các nguồn lực khác. Ngoài ra hoạt động xuất khẩu còn thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nước và đẩy mạnh tiến trình hội nhập nền kinh tế toàn cầu 1.

Các hình thức xuất khẩu hàng hóa Hiện nay, trên thế giới có rất nhiều hình thức xuất khẩu khác nhau với nhiều đặc điểm riêng, các hình thức xuất khẩu thường được phân thành bảy loại hình xuất khẩu chủ yếu sau: 1. Xuất khẩu trực tiếp Xuất khẩu trực tiếp là hình thức mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ mà bên mua và bên bán trực tiếp thỏa thuận, trao đổi, thương lượng về quyền lợi của mỗi bên phù hợp với pháp luật của các quốc gia các bên cùng tham gia ký kết hợp đồng. Ưu điểm của hình thức xuất khẩu trực tiếp là doanh nghiệp có quyền tìm kiếm bạn hàng, định đoạt giá cả, lựa chọn phương thức thanh toán trong khuôn khổ chính sách quản lý xuất khẩu của Nhà nước. Do đó, tham gia vào hình thức này thường là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu có uy tín và có đội ngũ nhân viên có chuyên môn cao.

Tuy nhiên hình thức này sẽ không phù hợp với các doanh nghiệp mới, chưa có kinh nghiệm trong ngành xuất khẩu bởi vốn sản xuất và sự am hiểu về thị trường quốc tế của họ đều còn rất hạn chế, sản phẩm của họ cũng chưa được biết đến nhiều. Xuất khẩu ủy thác Đây còn gọi là xuất khẩu gián tiếp là hình thức đưa hàng hóa ra nước ngoài qua đơn vị trung gian. Với hình thức này, đơn vị có hàng sẽ ủy thác quyền cho một đơn vị thứ 3 với danh nghĩa bên nhận ủy thác để thay bạn đưa hàng hóa ra nước ngoài. Với hình thức này, hai bên cần ký hợp đồng xuất khẩu ủy thác.

Quyền lợi và nghĩa vụ của bên ủy thác, bên nhận ủy thác do các bên tự thỏa thuận trong hợp đồng. Ở Việt Nam, thường những doanh nghiệp nhỏ, chưa am hiểu về thương mại quốc tế hoặc chưa có đội ngũ chuyên trách về nghiệp vụ xuất nhập khẩu. Khi đó, doanh nghiệp có thể ủy thác quyền cho các forwarder hoặc các công ty xuất nhập khẩu. Xuất khẩu theo hình thức gia công xuất khẩu Gia công xuất khẩu là phương thức sản xuất mà công ty trong nước nhận tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu) từ công ty nước ngoài về để sản xuất hàng dựa trên yêu cầu của bên đặt hàng.

Hàng hóa làm ra sẽ được bán ra nước ngoài theo chỉ định của công ty đặt hàng. Việt Nam là một trong những nước phát triển về hình thức gia công xuất khẩu, một trong các yếu tố khiến thị trường nước ta thu hút đầu tư nước ngoài đó là nhờ nguồn nhân lực dồi dào, nhân công rẻ. Điều này không những tạo điều kiện tiếp cận công nghệ 3 mới mà còn mang lại việc làm cho người lao động. Những mặt hàng gia công của nước ta khá đa dạng như dệt may, da giày, điện tử… 1.

Xuất khẩu theo hình thức buôn bán đối lưu Buôn bán đối lưu (hay mậu dịch đối lưu, thương mại đối lưu) là một phương thức giao dịch trao đổi hàng hóa, trong đó xuất khẩu kết hợp chặt chẽ với nhập khẩu, người bán đồng thời là người mua, lượng hàng giao đi có giá trị tương xứng với lượng hàng nhận về. Mục đích của giao dịch không phải nhằm để thu ngoại tệ mà nhằm để thu về một hàng hóa khác có giá trị tương đương. Tạm nhập tái xuất Tạm nhập tái xuất là hình thức mà thương nhân Việt Nam nhập khẩu tạm thời hàng hóa vào Việt Nam, nhưng sau đó lại xuất khẩu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam sang một nước khác. Hình thức này là tiến hành nhập khẩu hàng hóa nhưng không để tiêu thụ trong nước mà để xuất khẩu sang một nước thứ 3 nhằm thu lợi nhuận.

Giao dịch này bao gồm cả nhập khẩu và xuất khẩu với mục đích thu lại lượng ngoại tệ lớn hơn số vốn ban đầu đã bỏ ra.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ