Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC GIÁO DỤC TÍNH TỰ LỰC CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI XÂY DỰNG 1. Lịch sử nghiên cứu về việc giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi 1. Các nghiên cứu trên thế giới về việc giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, có rất nhiều công trình nghiên cứu về tính tự lực và việc giáo dục TTL cho trẻ mẫu giáo.
Các tác giả nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về TTL, cụ thể: có nhóm tác giả nghiên cứu về khái niệm về TTL, có nhóm nghiên cứu về biểu hiện TTL, vai trò của HĐVC và TCXD với sự phát triển TTL, con đường hình thành TTL, mục tiêu và nội dung giáo dục TTL, phương pháp giáo dục TTL cho trẻ,… • Nhóm thứ nhất, nghiên cứu về khái niệm và ý nghĩa của tính tự lực: Nhà tâm lý học Vengher đã đưa ra khái niệm tính tự lực “là khả năng suy nghĩ hành động không dựa vào sự giúp đỡ bên ngoài” (Vụ giáo dục mầm non, 2004). Nhà dân chủ cách mạng người Nga N. Dobrolyubov cho rằng: “Con người cần nhận thức được bản thân mình, có quyền sống, quyền tự hoạt động và sống tự lực”. Theo ông TTL là quyền, nghĩa vụ của con người đối với bản thân và xã hội.
Theo Pôlina Keromar cho rằng TTL có nguồn gốc trong nhu cầu hoạt động và tình cảm tự do của con người ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời.Leonchev cho rằng TTL là sự hình thành của nhân cách: “Tự lực là ý thức bản ngã, ý thức về cái “tôi” của mình là kết quả, là một sản phẩm sinh thành của một con người với tư cách là một nhân cách Nguyễn Ngọc Bích, 1998), (A. Thời cổ đại, các nhà triết học, giáo dục học phương Đông: nổi tiếng như Khổng Tử, Mạnh Tử, Socrates đã nghiên cứu về tư tưởng giáo dục con người và cho rằng “tự lực là sự đòi hỏi của xã hội đối với cá nhân mỗi người, đó cũng là 9 nhiệm vụ, mục tiêu, nguyên tắc và phương pháp dạy học dựa trên sự tích cực hoạt động của mỗi con người” (Nguyễn Như Diệm, 1996). Maria Montessori cho rằng “Không thể tự do nếu không tự lực hay nói cách khác, tự do và tự lực là hai khái niệm song hành”. Bà cho rằng tự lực là một phẩm chất của nhân cách, là con đường quan trọng nhất để trẻ bước vào đời.
Bà đã phát triển lý thuyết giáo dục tính tự lực lên một nấc thang cao hơn (Maria Montessori, 2013). Nhà cách mạng dân chủ, nhà phê bình, nhà giáo dục người Nga N. Dobrolyubov đã bày tỏ quan điểm: TTL là quyền, nghĩa vụ của con người đối với bảnthân và xã hội. Trong tác phẩm “Sự phát triển cơ thể trong mối quan hệ với hoạt động trí tuệ và hoạt động đạo đức” ông đã chỉ ra rằng: con người cần nhận thức được bản thân mình, có quyền sống, quyền tự hoạt động và sống tự lực (The Great Soviet Encyclopedia, 2010).
• Nhóm thứ hai, nghiên cứu về biểu hiện của TTL và mối liên quan của nó với các chức năng tâm lý khác Các nhà tâm lý học Liên Xô như: T.Đmitriev, tính tự lực được thể hiện thông qua hành vi của con người trong các mối quan hệ của con người với thế giới xung quanh. Radina, TTL là biểu hiện của tính tích cực, tính tự tin của cá nhân đối với sự phát triển tính tự lập và nguyện vọng tự lực thực hiện nhiệm vụ đến cùng (Thanh, 2010, được trích dẫn trong Phùng Duy Hoàng Yến, 2012). Một số tác giả L. Vygotsky, Jean Piaget, John Dewey, S.A Đmitrieva,… nghiên cứu TTL có gắn với các quá trình tâm lý như: tư duy, ý chí, trí nhớ, tình cảm.
Theo các nhà nghiên cứu trên thì tính tự lực có mối liên quan với các chức năng tâm lý cấp cao và xem nó như một cấu trúc phức tạp, nhưng khi đã hình thành thì tồn tại như một phẩm chất có tính cách bền vững và không thay đổi (L.Vưgotxki, 1996), (Carol Garhart Mooney, 2016), (Daika Ikeda et. Rubinstein nghiên cứu tính tự lực trong mối quan hệ với nhiệm vụ đặt ra. Theo ông, tính tự lực gắn chặt với tư duy. Vì vậy giáo dục tính tự lực cho trẻ đòi 10 hỏi trẻ phải biết vận dụng những kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo đã có vào tình huống mới (Nguyễn Hà Thanh, 2010).
• Nhóm thứ ba, nghiên cứu về vai trò của hoạt động vui chơi đối với việc giáo dục TTL Nhiều công trình nghiên cứu khoa học của trẻ mẫu giáo như E. Curuxcaia, Sigmund Freud, Rosemary P. đã chỉ ra rằng: Trò chơi chính là con đường chính để phát triển tính tự lực của trẻ. Thông qua trò chơi giúp trẻ bù đắp các năng lực thiếu hụt của bản thân và trẻ tùy ý lựa chọn, tự giải quyết vấn đề, tự lực làm những điều trẻ muốn mặc cho người lớn ngăn cản (S.Piaget (1963) cho rằng: “Trẻ nhỏ có vai trò tích cực trong sự phát triển nhận thức của mình thông qua sự tương tác qua lại tích cực với cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội.
Chơi là hình thức cơ bản giúp trẻ phát triển tính tự lực của trẻ, khả năng suy nghĩ và sự giao tiếp tích cực của trẻ, vai trò của giáo viên là khai thác các tình huống và các vật liệu trong môi trường để khuyến khích trẻ chơi (Phan Trọng Ngọ, 2003).Krupxkaia đã khẳng định tính tự lực được hình thành ngay từ lứa tuổi mầm non và tác giả cho rằng: “Trò chơi chính là phương thức nhận biết thế giới, là con đường dẫn dắt trẻ đi tìm chân lý. Trong khi chơi, trẻ tập khắc phục khó khăn, nhận thức hoàn cảnh xung quanh và tìm ra lối thoát đúng đắn”. Bà quan tâm đến sự hình thành và phát triển tính độc lập sáng tạo của trẻ thông qua trò chơi. Bà nhấn mạnh, trò chơi giúp phát triển tính tự lực sáng tạo của trẻ nhiều hơn cả so với các dạng hoạt động khác (A.
Nhiều nhà giáo dục học đã quan tâm đến sự hình thành tính tự lực của trẻ lứa tuổi nhỏ như: T.trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tính tự lực của trẻ nhỏ, tác giả đã khẳng định sự giúp đỡ tế nhị, đúng mức của người lớn thông qua hoạt động với đồ vật và vui chơi, tính tự lực sẽ dần dần hình thành một cách bền vững ở trẻ. Montessori nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giáo dục lấy trẻ làm trung tâm. Bà thích một đứa trẻ tự lực hơn là một đứa trẻ luôn cần sự giúp đỡ của người lớn (Dr. 11 • Nhóm thứ tư, nghiên cứu về con đường hình thành và các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển TTL của trẻ Một số nhà tâm lý, giáo dục hiện đại như John Dewey, Vygotsky, Reggio Emilia, Montessori, Jean Piaget,… cho rằng vai trò tích cực hoạt động cá nhân của đứa trẻ trong trò chơi chính là bản thân đứa trẻ phải tích cực với môi trường, sự tương tác của nhà giáo dục với trẻ ảnh hưởng đến quá trình giáo dục TTL cho trẻ.
Thông qua môi trường, trẻ được tự do vui chơi, trải nghiệm, tự kiến tạo sự hiểu biết của riêng mình. Tác giả Macarenco nghiên cứu tính tự lực của trẻ như nét đặc trưng nhất của thế hệ trẻ trong môi trường hoạt động của chúng. Tác giả đặc biệt chú ý đến vai trò của trò chơi, đến các giai đoạn khác nhau của trò chơi trong việc hình thành tính tự lực và phát huy mọi khả năng của trẻ (Macarenco. • Nhóm thứ năm, nghiên cứu về phương pháp và biện pháp giáo dục TTL: John Dewey cho rằng phương pháp giáo dục TTL hữu hiệu nhất đó là tạo mọi điều kiện cho trẻ hoạt động trải nghiệm.
Trong cuốn “Cương lĩnh sư phạm” của mình, ông đã đề ra tư tưởng giáo dục cách mạng: “Gắn sự học tập của trẻ với cuộc sống thực tại của con người, tạo điều kiện cho trẻ chìm đắm vào những tình huống thực tại” (Carol Garhart Mooney, 2006). Pexta Losi cùng đồng quan điểm cho trẻ hoạt động trải nghiệm: “Hãy để trẻ nhìn, trẻ nghe, cho trẻ khám phá. Hãy để cho trẻ ngã và tự đứng dậy để trẻ thử làm và nếm trải cả những thất bại. Hãy để trẻ tự làm những gì trẻ có thể tự làm” (Carol Garhart Mooney, 2016).
Tác giả Stephen Guise đã đưa ra những quan điểm: tính tự lực là một nét tính cách của nhân cách. Muốn hình thành nó phải giáo dục cho trẻ thói quen hành động, suy nghĩ một cách độc lập, tự chủ, không ỷ lại vào người khác. Nhóm các tác giả ở Liên Xô coi tự lực là phẩm chất quan trọng của nhân cách. Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của các tác giả như: S.
Liulinxkaia, Vygotsky, Leon Chev, Vengher, A. 12 Các tác giả trên đều khẳng định tính tự lực không tự nhiên mà có, TTL được hình thành trong hoạt động cá nhân. Phương pháp giáo dục TTL cho trẻ phải dựa trên các quá trình tâm lý, sự trải nghiệm và tự khám phá của bản thân trẻ (Mukhina, 1980). Theo Vygotsky, tính tự lực của đứa trẻ không chỉ ngẫu nhiên mà có, đó là một quá trình lặp lại.
Trong khi nó bắt đầu với những tương tác xã hội với người lớn, đứa trẻ sơm thể hiện khả năng độc lập, tự lực và sáng tạo trong khi chơi (Collete Gray & Macblain, 2014, tr. Trong tác phẩm “Cha mẹ Nhật dạy con tự lập” của Sugahara Yuko cho rằng TTL là phẩm chất rất quan trọng trong xã hội loài người. Vì con người dù thông minh đến mấy nhưng không có khả năng và thiếu năng lực ứng phó các tình huống trong đời sống hằng ngày thì không thật sự có ích cho xã hội. Cách duy nhất để trẻ học được TTL là hãy cho trẻ cơ hội tự trải nghiệm, tự tiếp xúc với xã hội.
Có như vậy trẻ mới nâng cao TTL (Sugahara Yuko, 2015). Còn theo Friedrich Froebel, hãy giao nhiệm vụ khó khăn để trẻ nỗ lực, tự lực vượt qua và tạo điều kiện cho trẻ được chìm đắm trong những tình huống thực tại (Nguyễn Thị Kim Ngân, 2005). Tóm lại, các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh: TTL là phẩm chất quan trọng của nhân cách, việc giáo dục TTL cho trẻ là rất cần thiết. Phương pháp giáo dục TTL thông qua các hoạt động thực hành trải nghiệm trong hoạt động vui chơi để trẻ có cơ hội hình thành ý thức bản thân và phát triển TTL.