Chương I1 TỎNG QUAN 1. Định nghĩa và phân loại tăng huyết áp 1. Định nghĩa tăng huyết áp Huyết áp là áp lực máu trong lòng động mạch. Huyết áp được tạo ra do lực bóp của tim và sức cản của động mạch.Theo tô chức Y tế thế giới một người trưởng thành trên 18 tuôi được gọi là tăng huyết áp khi huyết áp tâm thu > 140 mmHg và hoặc huyết áp tâm trương > 90 mmHg [41].
Phân loại huyết áp Việc phân loại THA khuyến cáo là không thay đổi từ năm 2003 và 2007 hướng dẫn ESH/ESC năm 2013 (Bảng 2). Tăng huyết áp được định nghĩa là giá trị >140 mmHg huyết áp tâm thu và/hoặc >90 mmHg huyết áp tâm trương [44]. Phân loại tăng huyết áp theo ESH/ESC (2013). Phân loại HA tam thu HA tam truong (mmHg) (mmHg) Ly tuong < 120 va < 80 Binh thuong 120-129 và/hoặc 80-84 Binh thuong cao 130-139 và/hoặc 85-89 Tăng huyệt ap do 1 140-159 và/hoặc 90-99 Tăng huyệt áp độ 2 160-179 và/hoặc 100-109 Tăng huyệt áp độ 3 > 180 và/hoặc >110 Tăng huyệt áp tâm thu đơn độc > 140 và <90 1.
Chẵn đoán tăng huyết áp Dựa vào trị số huyết áp đo được sau khi đo huyết áp đúng quy trình (xem Phụ lục 1 - Quy trình đo huyết áp). Ngưỡng chân đoán THA thay đổi tùy theo từng cách đo huyết áp [4]. Các ngưỡng chẩn đoán tăng huyết áp theo từng cách đo Huyết áp tâm thu Huyết áp tâm trương 1. Cán bộ y tê đo theo đúng quy trình | > 140 mmHg gid 2.
Do bang may đo HA tự động 24 | > 130 mmHg 3. Tu do tai nha (do nhiéu lan) > 135 mmHg va/hoac 2 90 mmHg = 80 mmHg 2 85 mmHg 1. Phân độ tăng huyết áp Theo hướng dẫn chân đoán và điều trị THA (Ban hành kèm theo quyết định số 3192/QĐ- BYT ngày 31/tháng 08 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế) Bảng I. Phân độ huyết áp Phân độ huyết áp Huyết áp tâm Huyết áp tâm thu (mmHg) truong (mmHg) Huyết áp tôi ưu <120 và <80 Huyết áp bình thường 120 - 129 và/hoặc 80 — 84 Tiên tăng huyệt áp 130 — 139 va/hoac 85 — 89 Tang huyét ap do 1 140 — 159 va/hoac 90 — 99 Tăng huyệt áp độ 2 160-— 179 và/hoặc 100 — 109 Tăng huyét ap do 3 > 180 và/hoặc >110 Tăng huyệt áp tâm thu đơn độc > 140 và <90 Nêu huyệt áp tâm thu và huyệt áp tâm trương không cùng mức phân độ thì chọn mức cao hơn để xếp loại.
THA tâm thu đơn độc cũng được phân độ theo các mức biến động của huyết áp tâm thu. Dịch tễ học và các nghiên cứu điều trị tăng huyết áp trên thế giới và tại Việt Nam 1. Dịch tễ học và một số nghiên cứu điều trị bệnh tăng huyết áp trên thế giới Tăng huyết áp là một yếu tố nguy cơ cao đối với bệnh tim mạch ở các nước công nghiệp và các nước đang phát triển, THA đang trở thành một vấn đề sức khỏe trên toàn cầu do sự gia tăng tuổi thọ và tần suất các yếu tố nguy cơ [35]. Tỷ lệ người bị THA trong cộng đồng ngày càng gia tăng và hiện đang ở mức rất cao, đặc biệt ở các nước đang phát triển.
Tại các nước đang phát triển hình thái bệnh tật thay đôi từ các bệnh nhiễm trùng là chủ yếu sang các bệnh không nhiễm trùng là chính, trong đó có bệnh THA. Tại Trung Quốc tỉ lệ tăng huyết áp tính cả nam giới và nữ giới trong độ tuôi 35-74 tuôi là 28,8%. Đối với người trưởng thành ở Nam Phi, con số này xấp xi 22,9% ở nam giới và 24,4% ở nữ [47]. Điều tra tại Hoa Kỳ năm 1999 - 2000 trên đối tượng là người trưởng thành cho thấy tỷ lệ HA bình thường là 39%; 31% thuộc nhóm tiền THA và 29% là THA [45].
Tỷ lệ hiện mắc hiệu chỉnh theo tuổi ở nam là 39% so với nữ 23,1%. Nhưng tỷ lệ THA ở nam cao hơn ở nữ lứa tuổi trước 45. Ở độ tuôi 45-54, tỷ lệ THA ở nữ bắt đầu nhỉnh hơn ở nam giới và ở các độ tuôi lớn hơn tỷ lệ tăng HA ở nữ cao hơn nam [42]. THA được coi là nguyên nhân chủ yếu góp phần chính trong 11,4% các ca tử vong ở Mỹ năm 2003.
Trong vòng 10 năm (1993- 2003) tỷ lệ tử vong do THA tăng 29,3%, số trường hợp tử vong tăng 56,1%. THA giai đoạn II trở lên (HA > 160/95 mm/Hg) làm tăng nguy cơ đột quy thêm 4 lần so với người có HA bình thường [19]. THA cũng tăng phát triển nguy cơ suy tim ứ huyết 2-3 lần. Năm 1999-2000 có tới 37,5 triệu lượt bệnh nhân phải đi khám vì THA tại Mỹ.
Ước tính chỉ phí trực tiếp và gián tiếp cho THA năm 2003 đã lên tới 65,3 tỷ USD [45]. Theo kết quả điều tra dịch tễ học bệnh tăng huyết áp từ nhiều Quốc gia trên thế giới đã được công bố như: Tỷ lệ THA tại Canada (1995) 22%, Tây Ban Nha (1996) 30%, Mêhico (1998) 19,8%, Singapo (1998) 26,6%, Trung Quốc (2001) 27%, Thái Lan (2001) 20,5%. Năm 2003 ở Ý là 37,7%, Thụy Điền là 38,4%, Phần Lan là 48,7%, còn ở Đức là 55,3%, Mỹ (2004) là 29%, Anh (2006) là 40% và ở Ai Cập là 26,3%, Châu Phi (2007) 21,3%, Canada (2007) là 25% [52]. Một nghiên cứu ở Brasin, nhóm tuổi 20-69 có tỷ lệ THA là 23,6% [43].
Theo Tổ chức Y tế thế giới ước tính đến 2.025 số người mắc THA là 29%, THA ảnh hưởng đến hơn 70 triệu người lớn ở Hoa Kỳ và gần một tỷ người trên toàn cầu [61]. Kiểm soát huyết áp có hiệu quả làm giảm tỷ lệ tử vong và biến chứng của các bệnh tim mạch. Tuy vậy, tỷ lệ kiểm soát tốt huyết áp bằng thuốc trên thế giới chỉ đạt từ 25 - 40% [53]. Điều trị thuốc hạ áp tích cực cho phép giảm số đo huyết áp tâm thu 6,3mmHg so với nhóm không dùng thuốc hạ áp tích cực lại làm tăng số đo HA thêm 4,8 mmHg [40].
Ở những nước có nền kinh tế phát triển, mức độ sử dụng biện pháp dùng thuốc trong điều trị THA khoảng từ 31,8 % ở Anh đến 58,4% tại Hoa Kỳ. Mức sử dụng thuốc điều trị THA thấp nhất được ghi nhận là ở Mêhicô, chỉ có 14,6% nữ giới và 6,5% nam giới. Mức độ điều trị THA đã tăng lên ở cả những nước đã và đang phát triển, một cuộc điều tra sức khỏe ở Trung Quốc cho thấy mức độ bệnh nhân điều trị THA tăng từ 12,1% năm 1999 tăng lên 2§,2% năm 2000 [20]. Dịch tễ học và các nghiên cứu về điều trị bệnh tăng huyết áp ở Việt Nam Theo số liệu điều tra Y tế Quốc gia năm 2001-2002 của Việt Nam, tỷ lệ THA ở nam giới từ l6 tuôi trở lên là 15,1%; trong đó THA độ I1, độ 2, độ 3 như sau: 10,2 %, 4,2 % và 1,9%.
Tỷ lệ được điều trị thuốc hạ áp chỉ chiếm 11,5%, trong số đó kiểm soát HA tốt (HA mục tiêu) chỉ chiếm 19,1%. Các YTNC bao gồm: tuổi cao, giới nam, chỉ số khối cơ thể cao, béo bụng, chỉ số vòng bụng/ mông tăng, rối loạn chuyển hóa lipit máu, rối loạn glueo máu, uống nhiều rượu, bia, tiền sử gia đình có người thân trực hệ bị THA. Yếu tố liên quan nhiều nhất đến THA là tuổi và mức độ béo phì. Tỷ lệ người dân hiểu biết đúng tất cả các YTNC chỉ chiếm 23% (18,8% ở nông thôn so với 29,5% ở thành thị), trong khi hiểu biết sai về các YTNC chiếm hơn 1/3 dân số (44,1% ở nông thôn so với 27,1% ở thành thị) [31].
Theo điều tra mới nhất từ một nghiên cứu của Trường Đại học Y- Dược Thái Nguyên năm 2007 cho thấy tỷ lệ THA ở vùng nông thôn cũng rất cao chiếm tỷ lệ 33,3% (đối với đối tượng từ 18 tuổi trở lên) [25]. Tại Việt Nam tỷ lệ bệnh nhân THA chưa được chân đoán hoặc biết bị bệnh nhưng chưa được điều trị hoặc điều trị chưa đúng chiếm gần 90%. Hầu hết các bệnh nhân THA chỉ điều trị khi thấy khó chịu và thường khi thấy con số huyết áp về bình thường là tự ý bỏ thuốc hoặc chỉ điều trị một đợt, không khám lại. Do vậy những biến chứng do bệnh THA gây ra như TBMN, nhồi máu cơ tim, suy thận.
ngày càng tăng. Tỷ lệ bệnh nhân phải tái nhập viện, tàn phế hoặc tử vong do bệnh gây ra vẫn ngày càng gia tăng. Theo một nghiên cứu về quản lý và điều THA có kiểm soát tại Lạng Sơn năm 2011 trên 1.049 bệnh nhân THA điều trị ngoại trú tại Bệnh viện đa khoa, ban Bảo vệ sức khỏe và 10 Trung tâm Y tế huyện trong tỉnh có một số kết luận sau: Độ tuổi mắc bệnh THA chủ yếu là người trên 50 tuổi, trong đó nam giới chiếm 52,14%, nữ giới chiếm 47,86%. Các yếu tố liên quan đến bệnh THA như cán bộ nghỉ hưu 59,1%, cán bộ văn phòng 11,73%, giáo viên 3,53%, nhân viên y tế 3,15%, nông dân và đối tượng khác 19,92% và các nguy cơ như thói quen uống rượu bia 21,45%, hút thuốc lá 13,44%, ít hoạt động thể lực 8,2%; mắc bệnh kèm theo rối loạn mỡ máu 18,30%, đái tháo đường 13,16%.
Kết quả tỷ lệ bệnh nhân THA được quản lý đạt 90,47%, chưa được quản lý 9,53%; bệnh nhân đến khám đúng hẹn 87,42%, không đúng hẹn 8,58%, bỏ chương trình chiếm 4%. Các bệnh phối hợp của bệnh nhân trước điều trị có kiểm soát bệnh THA la dai tháo đường 13,16%, khớp mạn tính 8,67%, tiêu hóa 2,76%, tai biến mạch máu não 2,48%, phổi 1,14%, bệnh khác 15,73%. Trong quá trình điều trị bệnh THA có kiểm soát, có 9 bệnh nhân bị tai biến mạch máu não, 1 bệnh nhân suy tim, 1 bệnh nhân nhồi máu cơ tim [23]. Một kết quả nghiên cứu khác trên 360 bệnh nhân về kiến thức, thực hành ở bệnh nhân từ 40 tuổi THA tại xã Long Thuận huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh năm 2011 của Tạ Quốc Đạt và cộng sự kết quả cho thấy chỉ có 21,7 % bệnh nhân THA biết phải uống thuốc suốt đời, chỉ có 27,5% người bệnh đang uống thuốc hạ áp [32].
Theo một nghiên cứu cắt ngang về điều trị tăng huyết áp trên 250 đối tượng tại 4 phường của TP. Hà Nội năm, các tác giả đã có các kết luận sau: Thực hành điều trị THA chưa tốt chỉ có 44,8% ĐTNC đạt về tuân thủ điều trị THA, 31,6% ĐTNC có trang bị máy đo huyết áp cá nhân, 34% là theo dõi HA thường xuyên. Có 32,8% không uống thuốc. Có đến 54,4% ĐTNC không đi khám định kỳ đều đặn.