Chương 1 TỎNG QUAN 1. BỆNH SẢN DÂY. Sán dầy bao gồm rất nhiều loài, nhưng có ba loài gâỵ bệnh trên người: bệnh do sán dây bò Taenia sagìnata và bệnh do sản dây lợn Taenia solium gây ra. Hiện nay ờ Việt Nam đã xác dịnh loài sán dày châu Á Taenia asiatĩca nãm 2001, có vật chủ trung gian ỉà lợn vả đốt sán trưởng thảnh rụng ra như sán dây bò.
Hình thề: Nguyên nhân cùa bệnh sán dây bò là Taenia saginata, sán có độ dài từ 4 - 12 mét. Thân sản gồm nhiều đốt (trên 1000 đốt). Dot trường thành dài 20 - 30 mm. Từ cung chia thành khoảng 32 nhánh.
Đầu sán nhỏ, có 4 giác bám. Nguyên nhân của bệnh sán dây lợn lả Taenia solium, cơ thể sán gồm khoảng 900 đốt. Dốt trường thành dài 10 - 12 mm, rộng 5 - 6 mm. Tử cung chia làm 12 nhánh.
Đầu sản ngoài 4 giác bám như đẩu sán dây bò, còn có thêm haí vòng móc. Chu kỳ phát triển. (Nguồn: Tài liệu tập huấn phòng chông giun sản nâm 2006 - Viện SR- KST- CT TU) 5 Hỉnh minh họa: Chu kỳ phát triền của bệnh sán dây, ấu trùng sán lợn Sán dây trướng thành ký sinh ở ruột non. Trứng sán dây theo đót già rụng ra khỏi cơ thể rồi ra ngoài theo phàn hoặc tự bỏ ra ngoài hậu môn.
Trứng có hình tròn dường kính 31-38 mcm. Trứng sán dây không cần thời gian phát triển ở ngoại cảnh. Khi trứng sản dây bò T.saginata được bò, trâu ăn phài, vảo trong cơ thề của bò, trâu sẽ phát triển thành nang ẩu trùng sán - Cysticercus bovì. Sau 4 thảng phát triển, nang sản có khả năng gây nhiễm.
Khi lợn ãn phải trứng sán dây lợn Taenia solium, trứng phát triển thành nang sán trong cơ thề lợn - Cysticercus celỉulosae. Nang sán có đường kính 0,7- 0,8 cm, chiều dải 1,5 cin. Bên trong nang sán lả đâu sán non, nằm về một phía. Đầu sán non nam trong môi trường lỏng, màu trang đục.
Nang ấu trùng sán phát triền thành ấu trùng sán trường thành sau 2,5 - 4 tháng và có khả năng sống tới 3 - 1 ọ năm [ 15 ], sau đó nang ấu trùng sán sẽ dấn dẩn bị thoái hỏa hoặc vôi hóa. Điểm khác nhau giữa bệnh sán dây bò và sán dây lợn là ở bệnh sán dây lợn, người có the còn mắc bệnh ấu trùng sán, tíiông thường những nang ấu trùng sán lọn ký sinh ờ cơ, mắt và hệ thống thần kình trung ương. Đặc điểm dịch tễ. Đẻ thực hiện chu kỳ cùa ký sinh trùng cần phải có vật chủ trung gian (lợn, bò).
Người gần như là vật chũ chính duy nhầt của ký sinh trùng và là nguồn lây nhiễm duy nhất. Người bị mắc sán dây trường thành khi ãn phải thịt lợn hoặc bò có nang ấu trùng sán không dược nẩu kỹ. Như vậy cơ chể lây truyền bệnh là dường ân uổng, kỷ siiih trùng trường thành về sinh dục và bắt đẩu đứt các đốt già sau 3 tháng kể từ khi ãn phải thịt có nang ẩu trùng, Ký sình trùng có thể sống ờ người tới 50- 70 năm [ 15]. Người mắc ký sinh trùng phần nhiều lả nam giới tuổi từ 21- 40 (nam mắc 75%, nữ mắc 25%) [15].
Bệnh phân bố ở khắp nơi tùy thuộc vào tình hình vệ sinh ăn uống. Ở Việt Nam bệnh sán dây bò thường gặp hơn sán dây lợn (Tsaginata : 78%; T. Ở miền đồng bằng, tỉ lệ nhiễm sản dây lù 1- 4 % [27], [28]; tỉ lệ nhiễm sán dây ở miền nủi khoảng 6% [28]. Trứng sán dây theo dốt già rụng ra khỏi thân sản rồi được bài xuất ra ngoài đối với sán dây lợn hoặc tự bò ra ngoải đổi với sán dây bò.
Ở ngoại cảnh sau hơn một thảng trứng mất khả năng sống. Dung dịch formol hoặc cresyl 5% sẽ giết trứng trong vòng 2 giờ. Nhiệt độ 50- 60°C nang ấu trùng sán sẽ chết sau 1 giờ. Bệnh sinh: Sản phẩm chuyền hóa và chất tiết cùa sán gây độc cho hầu hết các hệ thống và tổ chức cùa cơ thể.
Thực nghiệm cho thấy chắt tiết từ sán gây tổn hại hệ thổng tim mạch, cơ quan lạo máu, hệ thong thần kinh và các tuyến nội, ngoại tiết. Bản thân ký sinh trùng cũng gây tác hại cơ giới dáng kể: gây đau bụng chủ yểu vùng hồi tràng dôi khi giống như cơn đau ruột thừa. Sán có thể gây tấc hoặc bán tắc ruột. Bệnh nhân cỏn bị suy dinh dường do sán chiem sinh chất.
Triệu chứng lâm sàng: Bệnh nhân dầy bụng, đau vùng rơn, dần dần bệnh nhân thấy yếu mệt, chóng mặt, hoa mẳt, đau dầu v v. ở những bệnh nhân bị mẳc bệnh sán dây bò còn có cảm giác khó chịu, bứt rứt ở vùng hậu môn do đôi sán khi rụng khỏi cơ thể sán tự bò qua hậu môn để ra ngoài. Ờ nhùng bệnh nhân bị mắc bệnh nang ấu trùng sán, tủy theo VỊ trí ký sinh của nang mà cỏ the có những bệnh cảnh lâm sàng khác nhau. Để chẩn doán xác định bệnh sán dây trưởng thành ta phải kiểm tra phân tìm đổl sán hoặc xét nghiệm phân tìm trứng sán dây.
Để chẩn đoán xác định bệnh ẩu trùng sán dây ta phải làm sinh thiết not, u dưới da nghi ẩu trùng sán, có thể kết hợp với các phản ứng miễn dịch men phát hiện kháng nguyên hoặc kháng thề trong huyết thanh người bệnh hoặc bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang. Chụp CT Scanner sọ nào khi có nang ấu trùng sán ký sinh ở hệ thần kinh trung ương. Điều trị sáu dây. - Thuốc bhclosamid (Yomesan, Radcverm, Phenasal) viên 500 mg Buổi chiều trước ngày điều trị bệnh nhân ãn cháo.
Sảng sớm lúc đói, tán thuốc thành bột hoà với nước đun sôi để nguội rồi uống với liều dưới đây: -í- Dưới 2 tuổi, uống mồi lần 1/2 viên x2 lần, cảch nhau 1 giờ. + Từ 2-8 tuổi I viên X 2 lần: cách nhau 1 giờ. + Trên 8 tuổi 2 viên X 2 lần; cách nhàu 1 giờ. Thuốc cho kết quả diều trị 66,1% [15].
- Thuốc Praziquantel (Biltrcỉd, Distocid) viên 600mg. Dể diều trị bệnh sán dây trường thảnh cho bệnh nhãn uổng thuốc với liều lượng một lần là 10mg/kg cân nặng (trung bình mỗi người một viên 600mg); tỳ lệ ra đẩu sán là 100 % [ 15] với cả hai loại sán dây lợn và sán dây bò. Để điều trị bệnh ấu trùng lợn cho bệnh nhân uống Praziquatel với liều 15 mg/kg cân nặng hàng ngày, chia thành 3 liều, uống trong 15 ngày. Trong quá trình diều trị phải có sự theo dõi sát sao của thầy thuốc vì phàn ứng cùa thuốc có thể gây tử vong cho bệnh nhân.
Phòng bệnh. - Phải quàn lý phân người chặt chẽ, nhất là không cho lợn ăn phân người. - Không nuôi lợn thả rông. - Lụn, bò Thịt phải được kiểm tra khi mổ, những thịt lợn, bò có ẩu trùng sán phải hủy bỏ.
- Vệ sinh ăn uống: không ăn thịt ỉợn, thịt bỏ song hoặc chưa nấu chín, không ãn các loạỉ rau sổng rửa chưa sạch. - Phát hiện và điều trị những người có sán dây trường thành dể phòng tránh lây nhiễm bệnh lan tràn. BỆNH ẢƯ TRÙNG SÁN DÂY LỢN. Bệnh ấu trùng sán lợn là một bệnh nguy hiểm đối với con ngưừi.
Bệnh xuẩt hiện từ lâu và có hầu het các nơi trên thế giới, bệnh có liên quan tới giong lợn, liên quan tới phong tục tập quán nuôi lợn thả rông cùa một số dân tộc hoặc do điều kiện 8 vệ sinh kém của con người. Ổ nước ta cũng vậy, bệnh ấu trùng sán lợn chắc chắn có từ lâu. Tuy nhiên trong các y văn mời đề cập tới nhiều từ vài thập kỷ nay. Đặc điềm bệnh sinh.
Sản lợn (Toenia solium): Liên quan tới bệnh ầu trùng sản lợn chủ yểu là các đổt sán. Con sán cỏ thể gồm lừ vài chục dốt cho đển vài trãm đốt. Ta có thể chia ra các dốt non, đốt trung bình và các đốt già. - Các đốt non chủ yếu lả cơ quan sinh dục đực.
- Các dốt trung bình có cả cơ quan sinh dục đục và cải. - Các dốt gì à chủ yếu là cơ quan sinh dục cái, trên các đốt già bao gom tử cung và trứng sán. Sản tự động đửt các đổt già theo phân ra ngoài. Tuy nhicn các đốt già cũng cỏ the đửt ra và tự động di chuyển tởi hậu môn.
Các dổt này tụ động rơi ra ngoại cảnh, hàng ngày bệnh nhàn có thể rơi ra vài dốt đen hàng chục đốt sản qua hậu môn. Chính cảc dốt sán này ỉà nguồn khuếch tán trứng sán dây ra ngoại cành. Ẩu trùng sán lọn (Cysticercus celỉuỉosae): Neu lợn ăn phải trứng, thường lả do các đốt sán bị phân huỷ giải phỏng trứng ra ngoại cành- Cũng có thể ăn phân người hoặc do được thả rông ăn phải các đốt sán chứa trửng. Sau khi ân phải trứng sán dây.
trứng này sẽ vào ruột nờ thành ấu trùng. Các ấu trùng sán sẽ theo hệ bạch mạch hoặc xuyên các lớp tổ chức để đi đến ký sinh ở cơ vân cùa lợn. Áu trùng sản lợn thường hay kỷ sinh tại các cơ hoành, cơ lười cũa lợn, ấu trùng sản lợn cũng có thể ký sinh tới tểt cả các cơ vàn vùng tay, chân, ở tíiân thể. Ẩu trùng ký sinh có thể ở sâu trong bẳp cơ vân hoặc cũng có thể ớ lớp ngoài cửa cơ, dưới da.
Trong trường hợp lợn bị bệnh âu trùng sán lợn trước dây người ta thường gọi là bệnh “lợn gạo”. Ngoài cơ vân, lợn cớ thẻ bị ẩu trùng sán lợn ký sinh tại các cơ quan nội tạng tỉm, phổi, thận, lách và đặc biệt là ở mát, não, cá biệt có thể ờ tuỳ sống. Qua thực tể người ta thây ấu trùng sán lợn không ký sính ớ gan và tiểu não. Đối với người: Trường hợp nếu người ta ăn phải trứng sán lợn thi người cũng bị nhiễm ẩu trùng sán lợn giống như lợn mà ta đã nói đen ờ trên.
Như vậy người vừa ỉà vật chủ chính và cũng cỏ thể vừa là vật chủ phụ cùa Toenia solium. Thời gian sống cùa sán lợn trường thành ở người có thể trên 10 năm và ấu trùng cũng vậy. Nhiều trường hợp trên một bệnh nhân nhiễm cả sán trường thành, cả ấu trùng sán lợn. Tuy nhiên thường gặp bệnh ẩu trùng sán lợn lả thứ phát sau tiền sử có mắc bệnh sán trường thành.
Một số tác giả cho rang, người có sán trường diành dễ có nguy cơ mac bệnh ẩu trùng sán lợn. Thông thường các dốt sán già rụng theo phân qua hậu môn ra ngoại cảnh. Nhưng nếu có lý do gì đó các đốt sán ở ruột bị nhu dộng ruột đẩy lên dạ 10 dày (khi nôn.