Đặt vấn đề Từ trước đến nay, chó luôn được xem là loài vật nuôi gần gũi với con người. Ở Việt Nam, chó được nuôi để giữ nhà, làm cảnh nhưng bệnh ở chó thường rất ít được quan tâm đến. Tuy nhiên, chó thường mắc nhiều bệnh ký sinh trùng như giun, sán, ve, rận, ghẻ,. Những bệnh này thường không có triệu chứng rõ ràng, không gây chết ngay nhưng làm cho chó gầy còm, chậm lớn, giảm sức đề kháng.
Hơn nữa, ấu trùng của sán dây ký sinh ở các vật nuôi khác và gây bệnh, làm thiệt hại đến giá trị kinh tế trong ngành chăn nuôi và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Một trong những ấu trùng đó là Cysticercus tenuicollis, là ấu trùng của sán dây Taenia hydatigena, ấu trùng này ký sinh và gây bệnh trên lợn, dê, cừu, trâu, bò, thỏ, ngựa, kể cả con người. Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết, ấu trùng Cysticercus tenuicollis ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng của vật chủ và gây bệnh. Ấu trùng là những bọc nước mang đầu sán dây Taenia hydatigena, có kích thước to, nhỏ không đều nhau, bám ở bề mặt màng treo ruột, lách, gan, thận, phổi.
Vì thế, trong quá trình giết mổ, có thể dễ nhầm lẫn ấu trùng với các bọc nước bình thường, từ đó không có biện pháp tiêu diệt ấu trùng, làm tăng nguy cơ nhiễm sán dây cho chó từ đó làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh cho người và gia súc. Bệnh Cysticercus tenuicollis phổ biến ở nhiều tỉnh, thành trong cả nước, đặc biệt là những nơi nuôi nhiều chó và chế độ kiểm soát giết mổ chưa nghiêm ngặt. Vì vậy, nguy cơ mầm bệnh phát tán ra ngoài môi trường rất cao, khi gặp điều kiện thuận lợi, các ấu trùng ký sinh, gây bệnh trên vật nuôi khác. Khi bị nhiễm ấu trùng, vật chủ có thể có một số triệu chứng như gầy 2 yếu dần, đau bụng, bụng căng to, ấn vào vùng bụng con vật có cảm giác đau, nếu nhiễm nặng có thể hoàng đản da và niêm mạc.
Vật chủ có thể chết do thiếu máu, nội quan bị huỷ hoại hoặc do các bệnh kế phát. Hiện nay, bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra chưa có thuốc điều trị đặc hiệu. Ngoài ra, việc chẩn đoán bệnh đối với con vật còn sống rất khó khăn do triệu chứng bệnh không điển hình. Đặc biệt, không thể tìm ấu trùng bằng cách xét nghiệm phân do ấu trùng ký sinh trên bề mặt các khí quan trong xoang bụng.
Vì vậy, viê ̣c nghiên cứu phương pháp chẩ n đoán gia súc bi ̣ bê ̣nh ấ u trùng sán dây để có biê ̣n pháp điề u tri ̣kip̣ thời là rấ t cầ n thiế t. Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành đề tài: “Chẩn đoán bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis bằng phương pháp biến thái nội bì, đánh giá hiệu lực điều trị bệnh trên lợn và dê tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”. Mục đích của đề tài Đánh giá được hiệu quả của kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis, sử dụng trong chẩn đoán bệnh bằng phương pháp biến thái nội bì. Đánh giá hiệu lực của thuốc điều trị bệnh ấu trùng Cysticercus tenuicollis trên lợn và dê tại huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
Mục tiêu của đề tài - Xác định độ nhạy, độ đặc hiệu và độ ổn định của kháng nguyên chế tạo từ ấu trùng Cysticercus tenuicollis. - Xác định điều kiện bảo quản của kháng nguyên chế ta ̣o. - Thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa. - Thử nghiệm thuốc diệt ấu trùng Cysticercus tenuicollis cho lợn thí nghiệm và lợn trên thực địa.
Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài 1. Ý nghĩa khoa học Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về chế tạo kháng nguyên từ ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis, về chất lượng kháng nguyên như: độ nhạy, độ đặc hiệu và độ ổn định của kháng nguyên chế tạo, từ đó thử nghiệm kháng nguyên trong chẩn đoán bệnh Cysticercus tenuicollis ở dê và lợn trên thực địa. Ý nghĩa thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học để sử dụng kháng nguyên chẩn đoán bê ̣nh do ấ u trùng Cysticercus tenuicollis bằ ng phương pháp biế n thái nô ̣i bì. Đồng thời là cơ sở khoa học để khuyến cáo người chăn nuôi áp dụng quy trình phòng, trị bệnh do ấu trùng Cysticercus tenuicollis gây ra, nhằm hạn chế tỷ lệ và cường độ nhiễm, hạn chế tác hại do bệnh gây ra trên một số loại vật nuôi và kể cả trên người.
4 Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Sán dây ký sinh ở chó và ấu trùng sán dây Cysticercus tenuicollis 2. Đặc điểm sinh học của sán dây ở chó Vị trí của sán dây chó trong hệ thống phân loại động vật học Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [23], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [5], (2003) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], hệ thống phân loại sán dây của Việt Nam đã lựa chọn hệ thống phân loại của Schulz và Gvozdev (1970) để sắp xếp các loài sán dây phát hiện được ở người, chim, thú nuôi và hoang dại ở Việt Nam.
Trong đó, sán dây ký sinh ở chó có vị trí như sau: Ngành sán dẹp Plathelminthes Lớp Cestoda Rudolphi, 1808 Phân lớp Eucestoda Southwell, 1930 Bộ Pseudophyllidea Carus, 1863 Họ Diphylloborthriidae Luhe, 1910 Giống Spirometra Mueller, 1937 Loài Spirometraerinacei-europaei (Rudolphi, 1819) Mueller, 1937 Loài Spirometra mansonoides (Mueller, 1935) Mueller, 1937 Bộ Cyclophyllidea Beneden in Braun, 1900 Phân bộ Hymenolepidata Skrjabin, 1940 Họ Dipylidiidae Mola, 1929 Giống Dipylidium Leuckart, 1863 Loài Dipylidium caninum Leuckart, 1758 Phân bộ Tta Skrjabin et Schulz, 1937 5 Họ Taeniidae Ludwig, 1886 Giống Taenia Linnaeus, 1758 Loài Taenia hydatigena Pallas, 1766 Loài Taenia pisiformis Bloch, 1780 Giống Echinococcus Rudolphi, 1801 Loài Echinococcus granulosus Batsch, 1786 Giống Multiceps Goeze, 1782 Loài Multiceps multiceps Leske, 1780. Phân bộ Mesocestoidata Skrjabin, 1940 Họ Mesocestoididae Perrier, 1897 Giống Mesocestoides, Wailand, 1863 Loài Mesocestoides lineatus Goeze, 1782 Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [9]: tính đến thời điểm hiện tại, người ta đã biết hơn 30 loài sán dây ký sinh ở loài ăn thịt gây bệnh cho chó, mèo. Chúng đều thuộc bộ Cyclophyllidea và Pseudophyllidea. Kết quả tổng hợp của Phạm Sỹ Lăng (2002) [15] cho biết, đến nay đã phát hiện được 8 loài sán dây ký sinh trên chó ở miền Bắc Việt Nam.
Hiện nay trên thế giới có khoảng 40 loài sán dây gây bệnh cho chó và các thú ăn thịt thuộc họ chó mèo (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004) [1]. Đặc điểm hình thái, cấu tạo của sán dây chó * Đặc điểm chung: Phan Thế Việt và cs (1977) [23], Nguyễn Thị Kỳ (1994) [5], (2003) [6], Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [18], cho biết: Sán dây chó có những đặc điểm của lớp sán dây nói chung: hình dải băng màu trắng hoặc trắng ngà. Cơ thể dài, dẹp theo hướng lưng bụng, chia thành ba phần: đầu, cổ, thân (gồm những đốt sau cổ, có hình dạng và cấu tạo khác nhau). Đầu sán dùng để bám vào thành ruột vật chủ, nên có những hình dạng, kích thước và các cơ quan bám đặc trưng.
Chiều rộng của đầu thường chỉ nhỏ 6 hơn 1 mm, nhưng cũng có sán có đầu dài vài mm. Cơ quan bám nằm trên đầu bao gồm rãnh bám hoặc giác bám, mõm, vòi và có nhiều móc. Ở một số loài sán dây trên móc bám có các móc bé xếp thành nhiều hàng. Giác bám là bộ phận đặc trưng của sán dây bậc cao.
Móc bám nằm ngay trên đầu hay ở phần cuối vòi, sắp xếp thành một hay hai hàng. Số lượng móc ở các nhóm sán dây dao động từ vài móc đến vài trăm móc. Kích thước, cấu tạo và số lượng móc cố định cho mỗi loài. Cổ là những đốt sán nối tiếp sau đầu.
Đốt cổ của sán dây là đốt sinh trưởng, từ các đốt cổ sinh ra các đốt thân, cơ quan sinh sản ở các đốt cổ chưa hình thành rõ. Thân sán dây lại gồm ba loại đốt: những đốt chưa thành thục về sinh dục (ở gần cổ), cơ quan sinh dục chưa phát triển đầy đủ, chỉ thấy cơ quan sinh dục đực. Những đốt thành thục về sinh dục (ở giữa thân), cơ quan sinh dục trong những đốt sán này đã phát triển đầy đủ, có đủ cả bộ phận sinh dục đực và cái, có hệ bài tiết, cấu tạo mỗi đốt tương tự như mỗi cơ thể sán lá, nhưng khác sán lá là không có hệ tiêu hoá. Những đốt già (ở cuối thân sán), bên trong đốt sán chứa đầy tử cung với vô số trứng sán dây.
Ở những đốt già, bộ phận sinh dục đực bị thoái hoá. Những đốt già thường xuyên được rời khỏi cơ thể sán và theo phân ra ngoài (đặc điểm này thấy ở những loài sán dây thuộc bộ Cyclophyllidea). Chiều dài của sán dây chó dao động từ 0,5 mm đến hàng chục mét. Cơ thể sán dây phủ lớp tiểu bì, đến lớp hạ bì, rồi đến lớp cơ vòng, cơ dọc.
Phần bên trong chứa đầy nhu mô. Sán dây chó cũng giống các sán dây khác ở đặc điểm không có hệ tiêu hóa, sán lấy thức ăn bằng phương thức thẩm thấu qua bề mặt cơ thể. Hệ thần kinh ở sán dây kém phát triển, gồm có hạch thần kinh trung ương nằm ở trên đầu, từ đó có các dây thần kinh chạy dọc cơ thể. Có hai dây phát triển hơn nằm bên ngoài ống bài tiết và mỗi đốt nối với nhau bởi các cầu nối ngang.
7 Hệ tuần hoàn và hệ hô hấp tiêu giảm. Hô hấp theo kiểu yếm khí. Hệ bài tiết của sán dây cấu tạo theo kiểu nguyên đơn thận, gồm 2 ống chính từ đầu sán đi về cuối thân và thông với lỗ bài tiết. Ngoài ra, ở mỗi đốt sán còn có những ống ngang nối liền với 2 ống chính.
Hầu hết các loài sán dây là lưỡng tính: Trong mỗi đốt thường có một hệ sinh dục (gồm một cơ quan sinh dục đực và một cơ quan sinh dục cái) phát triển ở các giai đoạn khác nhau, ít khi có hai hệ sinh dục hoặc hơn. Sự phát triển của hệ sinh dục theo một thứ tự nhất định: Ở các đốt non cơ quan sinh dục chưa phát triển, sau đó hình thành cơ quan sinh dục đực rồi đến cơ quan sinh dục cái. Sau khi thụ tinh, cơ quan sinh dục đực teo dần còn lại cơ quan sinh dục cái. Ở các đốt già, trứng chứa đầy trong tử cung.
Loài Taenia hydatigena: dài 5000 mm gồm 550 - 700 đốt rất rộng.