CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG. Bất bình đẳng giới và bất bình đẳng giới trong thu nhập 1. Quan niệm về bất bình đẳng giới Giới:“Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Tổ chức nông lương thế giới FAO (1997) cũng cho rẳng từ giới chỉ mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ, do xã hội xây dựng nên” [13, tr.
Khái niệm giới dựa trên tuyên bố của Liên Hiệp Quốc (1948) về nhân quyền được hiểu là đặc điểm, vị trí, vai trò và quyền lợi của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là trong hoạt động bầu cử và bảo đảm trả lương công bằng. Nói chung, những quan niệm về giới đều là vấn đề xã hội, chúng không cố định và luôn thay đổi theo đặc điểm văn hóa, phụ thuộc vào đẳng cấp, dân tộc, tuổi tác và thời gian. Giới phản ảnh và tác động tới các vai trò mà nam và nữ đảm nhiệm trong xã hội, cũng như vị trí, sức mạnh kinh tế, chính trị của họ. Bình đẳng giới: Bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều chiểu khác nhau trong bối cảnh của sự phát triển.
Theo CEDAW (1978) bình đẳng giới là tình trạng (điều kiện sống , sinh hoạt, làm việc,…) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng tiếp cận sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó. Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam giới, phụ nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số hoặc tỷ lệ 50/50. Bình đẳng giới là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam giới và phụ nữ phát triển về mọi mặt. Đồng thời, bình đẳng giới còn 9 tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình mang lại.
Bất bình đẳng giới:“là khoảng cách về giới, là sự thiên lệch giới bất lợi cho nữ. Bất bình đẳng giới là sự khác biệt về cơ hội và quyền lợi của nam và nữ để đạt đến năng lực tối đa của mình hoặc quyết định cuộc sống bản thân hay toàn xã hội. Bất bình đẳng giới thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau về luật pháp, về cơ hội tiếp cận các nguồn lực, thù lao trong công việc, giá trị của tiếng nói, quyền lực,…”[13, tr. Như vậy, bất bình đẳng giới hay thuật ngữ “phân biệt đối xử với phụ nữ” có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị , kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào.
“Bất bình đẳng giới làm giảm năng suất trong các doanh nghiệp, làm suy yếu khả năng quản lý nhà nước của một quốc gia – qua đó đã giảm bớt hiệu lực của chính sách phát triển” [6, tr. Cái giá phải trả về cuộc sống con người cũng là cái giá cho sự phát triển vì nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân cũng là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới cũng gây thiệt hại cho năng suất, tính hiệu quả và tiến bộ kinh tế. Bằng cách cản trở quá trình tích lũy vốn của con người trên thị trường lao động, bằng cách gạt bỏ một cách có hệ thống không cho phụ nữ tiếp cận các nguồn lực, dịch vụ công cộng hay các hoạt động sản xuất, sự phân biệt đối xử theo giới đã kìm hãm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.
Vậy câu hỏi đặt ra là: Tại sao bất bình đắng giới vẫn còn dai dẳng? Vì: Các thể chế xã hội – các chuẩn mực, tập quán xã hội, văn hóa, quyền hạn, luật lệ cũng như các thể chế kinh tế thị trường. Chẳng hạn như trên thị trường đang định hình cho mối quan hệ giữa nam và nữ, tác động đến loại nguồn lực nào mà họ được quyền tiếp cận đến, hoạt động hay nguồn lực nào mà họ không được phép tham gia, 10 và họ có thể tham gia vào nền kinh tế xã hội dưới hình thức nào. Và ta có thể dễ dàng nhận thấy phụ nữ bị giới hạn nhiều hơn hay ít có cơ hội và quyền lực tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội so với nam giới. Ngay cả khi chúng không công khai phân biệt nam nữ thì những thể chế chính thức hoặc không chính thức vẫn chịu tác động của các chuẩn mực xã hội, tập quán xã hội, văn hóa,… về những vai trò thích hợp theo giới.
Cũng giống như thể chế, hộ gia đình đóng vai trò cơ bản trong việc định hình mối quan hệ giới ngay từ khi bắt đầu cuộc sống con người và truyền từ đời này sang đời khác. Các quyết định được đưa ra hầu hết là trong phạm vi gia đình như việc có con và nuôi dạy chúng, làm việc gì, làm như thế nào, đầu tư cho tương lai. Nguồn lực sản xuất trong gia đình được phân bổ như thế nào giữa con trai và con gái, chúng được trao quyền tự chủ đến đâu, kỳ vọng của cha mẹ vào con trai và con gái có khác nhau không? Tất cả những quyết định này sẽ ảnh hưởng đến sự phân biệt giới. Nhưng các quyết định trong gia đình không đưa ra một cách biệt lập mà lại bị ảnh hưởng của cộng đồng, tập quán văn hóa xã hội nơi họ đang sống.
Và bởi vì nền kinh tế quyết định rất nhiều cơ hội mà con người có thể nâng cao mức sống của mình nên chính sách phát triển kinh tế có tác động mạnh mẽ đến sự bất bình đẳng giới. Thu nhập cao hơn có nghĩa là những hạn chế về nguồn lực trong gia đình khiến cha mẹ phải cân nhắc giữa đầu tư cho con trai hay con gái sẽ ít hơn mà thay vào đó cha mẹ nào cũng muốn sự đầu tư công bằng cho các con của mình. Những phụ nữ bị ảnh hưởng thu nhập như thế nào còn tùy thuộc vào những hoạt động tạo ra thu nhập hiện có của họ là gì và việc nữ giới và nam giới có thể tham gia bình đẳng như nhau hay không và những nỗ lực, kỹ năng của họ cóđược trả lương công bằng. Các thước đo bất bình đẳng giới Chỉ số phát triển giới (GDI): là chỉ số tổng hợp phản ảnh thực trạng bất bình đẳng giới giữa nam và nữ của một quốc gia hay một vùng, một tỉnh,…, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người 11 của nam và nữ.
Khi chỉ số GDI tính cho bất kỳ quốc gia nào càng tiến đến giá trị 0, thì mức độ chệnh lệch giữa hai giới ngày càng tăng và ngược lại. Chỉ số GDI được UNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995. Chỉ số phát triển về giới là một chỉ số tổng hợp đo lường phát triển con người trên ba lĩnh vực giống như trong chỉ số phát triền con người HDI ( tuổi thọ, học vấn và thu nhập) nhưng đã điều chỉnh để xem xét sự bất bình đẳng giới trong lĩnh vực này. Về cơ bản GDI vẫn dựa trên những số liệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp của yếu tố giới để qua đó đánh giá trình độ phát triển giới của mỗi quốc gia.
Sự khác biệt so với HDI là ở chổ chỉ số GDI điều chỉnh mức độ đạt được của mỗi quốc gia về tuổi thọ, học vấn và thu nhập cùng với mức độ đạt được của nam giới và nữ giới (UNDP, 1995). Do bất bình đẳng giới có mặt ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thường thấp hơn so với HDI. Về mặt đo lường, việc đưa ra chỉ số GDI không yêu cầu sự tính toán phức tạp và cũng không cần đo đạc thêm số liệu mà hoàn toàn dựa trên các kết quả thống kê về HDI nhưng có sự tính toán tách biệt cho hai giới. Chính vì vậy có người đã gọi GDI là một biến thể khác của HDI, có ý nghĩa bổ sung chứ không hề mâu thuẫn với HDI.
Chỉ số GDI giảm xuống khi mức độ đạt được của cả nam giới và nữ giới giảm xuống hoặc khi sự chênh lệch về những gì đạt được của nam và nữ tăng lên. Sự chênh lệch về những khả năng cơ bản giữa nam và nữ càng tăng thì chỉ số GDI càng thấp khi so sánh với HDI. Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số phát triển giới (GDI) ngày càng trở nên rõ ràng. Đo lường được chỉ số phát triển giới sẽ cung cấp cơ sở quan trọng để từ đó các cơ quan chức năng xây dựng các chương trình, chính sách hướng tới sự phát triển của cộng đồng nói chung và cho từng giới nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu vì sự phát triển cho phái nữ.
Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên Hiệp Quốc về mức thang phát triển của mỗi quốc gia khu vực hiện nay đã trở nên phổ biến. Mặc dù hoàn toàn dựa trên cách tính toán của HDI nhưng trong một số trường hợp GDI đã thay thế HDI trong các đánh giá phát triển liên quan đến các yếu tố giới. 12 Thước đo quyền lực theo giới tính (GEM) Đo lường mức độ trao quyền về giới là một trong những chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ bất bình đẳng giới. Chỉ số này được giới thiệu trong báo cáo phát triển con người năm 1995 cùng với chỉ số GDI.
Nó tập trung vào ba biến số phản ánh sự tham gia của phụ nữ vào quá trình đưa ra các quyết định về chính trị và việc tiếp cận của họ đối với các cơ hội mang tính nghề nghiệp (có chuyên môn) và quyền kiếm sống.