Đánh giá bất bình đẳng giới trong thu nhập người lao động tại TPHCM

Chuyên khảo Thực trạng bất bình đẳng giới thu nhập tại tphcm phân tích chuyên sâu các khía cạnh quan trọng trong lĩnh vực hiện nay

Chuyên ngành

Kinh tế học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ kinh tế

2017

136
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phân tích thực trạng bất bình đẳng giới thu nhập tại TPHCM

Bất bình đẳng giới trong thu nhập tại TP.HCM vẫn còn là vấn đề nan giải, tuy đã có nhiều chính sách nhằm giảm thiểu chênh lệch. Theo nghiên cứu, mức chênh lệch về thu nhập giữa nam và nữ còn tồn tại đáng kể, đặc biệt trong các ngành nghề truyền thống và lĩnh vực công nghiệp. Các số liệu khảo sát cho thấy phụ nữ tại thành phố thường có thu nhập thấp hơn nam giới trung bình từ 10-20%, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống, quyền lợi và khả năng tự lập của phụ nữ. Thực trạng này phản ánh rõ những rào cản về mặt văn hóa, xã hội và chính sách hỗ trợ chưa thực sự phù hợp để thúc đẩy bình đẳng. Nhiều nhóm đối tượng thuộc các quận vùng ven, khu công nghiệp, phụ nữ có trình độ thấp, trẻ tuổi hoặc chưa kết hôn vẫn gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận cơ hội việc làm và thụ hưởng chính sách hỗ trợ bình đẳng.

1.1. Thực trạng chênh lệch thu nhập giữa nam và nữ tại TP.HCM

1.2. Những nguyên nhân chính dẫn đến bất bình đẳng giới trong thu nhập tại TP.HCM

II. Các yếu tố ảnh hưởng và giải pháp nâng cao bình đẳng thu nhập tại TP

Nhiều yếu tố kinh tế, xã hội và chính sách ảnh hưởng trực tiếp tới bất bình đẳng giới về thu nhập. Trong đó, trình độ học vấn, kỹ năng chuyên môn, phân chia nghề nghiệp, và sự tham gia của phụ nữ vào các hoạt động sản xuất là những điểm cần chú ý. Chính sách hỗ trợ, nâng cao về đào tạo nghề, tạo cơ hội nghề nghiệp phù hợp và minh bạch trong thỏa thuận lương thưởng là các biện pháp giúp giảm thiểu chênh lệch. Các đề xuất cụ thể bao gồm: phát triển chính sách tuyển dụng bình đẳng, xây dựng các chương trình đào tạo tập trung vào năng lực của phụ nữ, đẩy mạnh tuyên truyền về bình đẳng giới, đồng thời thực thi các luật về bảo vệ quyền lợi của lao động nữ để thúc đẩy sự công bằng về thu nhập và vị trí xã hội.

2.1. Giải pháp chính sách giảm chênh lệch giới trong thu nhập

2.2. Truyền thông và nâng cao nhận thức về bình đẳng giới

III. Các mô hình thành công trong thúc đẩy bình đẳng giới quốc tế và bài học cho TP

Các quốc gia đi đầu về bình đẳng giới như New Zealand, Thụy Điển, và Canada đã xây dựng các chính sách rõ ràng, thực thi nghiêm minh và tạo ra môi trường thuận lợi cho phụ nữ tham gia vào các lĩnh vực chính trị, kinh tế. Điển hình, những chiến lược thúc đẩy bình đẳng của New Zealand tập trung vào hỗ trợ phụ nữ tại nơi làm việc, nâng cao quyền năng kinh tế, khuyến khích các vai trò phi truyền thống và xây dựng hệ thống pháp luật bảo vệ quyền phụ nữ. Các bài học rút ra cho TP.HCM gồm có việc xây dựng các chính sách pháp luật mạnh mẽ hơn, thúc đẩy các chương trình đào tạo nghề phù hợp, tăng cường hợp tác quốc tế, và có các chiến dịch truyền thông tích cực nhằm thay đổi quan niệm truyền thống về giới.

3.1. Các chính sách thành công của các quốc gia đi đầu về bình đẳng giới

3.2. Bài học và đề xuất cho TP.HCM

IV. Tương lai của bình đẳng giới thu nhập tại TP

Bình đẳng giới trong thu nhập tại TP.HCM sẽ tiếp tục là một mục tiêu chiến lược, đòi hỏi phải có chính sách phù hợp, hành động cụ thể và tổ chức phối hợp chặt chẽ từ các cơ quan chính phủ, doanh nghiệp và cộng đồng. Các xu hướng phát triển mang tính tích cực gồm có sự gia tăng tỷ lệ phụ nữ tham gia thị trường lao động, các chương trình nâng cao kỹ năng, và thúc đẩy sự bình đẳng trong lĩnh vực chính trị. Đồng thời, xu hướng công nghệ số, tư duy đổi mới, và xã hội chuyển đổi tích cực sẽ tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao quyền năng kinh tế cho phụ nữ, giảm khoảng cách giới trong thu nhập, hướng tới một xã hội bình đẳng, toàn diện và phát triển bền vững.

4.1. Các xu hướng phát triển của bình đẳng giới tại TP.HCM

4.2. Các giải pháp lâu dài để duy trì tiến bộ trong bình đẳng giới

Thúc đẩy chính sách pháp luật rõ ràng, minh bạch, tăng cường giám sát triển khai các quy định về bình đẳng giới. Tích cực mở rộng các chương trình đào tạo kỹ năng, về quản lý, lãnh đạo nhằm nâng cao năng lực của phụ nữ. Truyền thông mạnh mẽ nhằm thay đổi quan niệm xã hội, thúc đẩy vai trò của nam giới trong việc hỗ trợ bình đẳng giới, hướng tới một xã hội phát triển bền vững, trong đó phụ nữ có thể đóng góp toàn diện và ngang bằng với nam giới.

18/12/2025
Đánh giá bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động ở đô thị thành phố hồ chí minh

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG. Bất bình đẳng giới và bất bình đẳng giới trong thu nhập 1. Quan niệm về bất bình đẳng giới Giới:“Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Tổ chức nông lương thế giới FAO (1997) cũng cho rẳng từ giới chỉ mối quan hệ xã hội giữa nam và nữ, do xã hội xây dựng nên” [13, tr.

Khái niệm giới dựa trên tuyên bố của Liên Hiệp Quốc (1948) về nhân quyền được hiểu là đặc điểm, vị trí, vai trò và quyền lợi của nam và nữ trong tất cả các mối quan hệ xã hội, đặc biệt là trong hoạt động bầu cử và bảo đảm trả lương công bằng. Nói chung, những quan niệm về giới đều là vấn đề xã hội, chúng không cố định và luôn thay đổi theo đặc điểm văn hóa, phụ thuộc vào đẳng cấp, dân tộc, tuổi tác và thời gian. Giới phản ảnh và tác động tới các vai trò mà nam và nữ đảm nhiệm trong xã hội, cũng như vị trí, sức mạnh kinh tế, chính trị của họ. Bình đẳng giới: Bình đẳng giới được định nghĩa theo nhiều chiểu khác nhau trong bối cảnh của sự phát triển.

Theo CEDAW (1978) bình đẳng giới là tình trạng (điều kiện sống , sinh hoạt, làm việc,…) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vị trí như nhau, họ có cơ hội bình đẳng tiếp cận sử dụng các nguồn lực để mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm cống hiến cho sự phát triển của quốc gia và được hưởng lợi từ sự phát triển đó. Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam giới, phụ nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số hoặc tỷ lệ 50/50. Bình đẳng giới là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho nam giới và phụ nữ phát triển về mọi mặt. Đồng thời, bình đẳng giới còn 9 tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con và gánh vác phần lớn lao động gia đình mang lại.

Bất bình đẳng giới:“là khoảng cách về giới, là sự thiên lệch giới bất lợi cho nữ. Bất bình đẳng giới là sự khác biệt về cơ hội và quyền lợi của nam và nữ để đạt đến năng lực tối đa của mình hoặc quyết định cuộc sống bản thân hay toàn xã hội. Bất bình đẳng giới thể hiện trên nhiều khía cạnh khác nhau về luật pháp, về cơ hội tiếp cận các nguồn lực, thù lao trong công việc, giá trị của tiếng nói, quyền lực,…”[13, tr. Như vậy, bất bình đẳng giới hay thuật ngữ “phân biệt đối xử với phụ nữ” có nghĩa là bất kỳ sự phân biệt, loại trừ hay hạn chế nào dựa trên cơ sở giới tính làm ảnh hưởng hoặc nhằm mục đích làm tổn hại hoặc vô hiệu hóa việc phụ nữ được công nhận, thụ hưởng, hay thực hiện các quyền con người và những tự do cơ bản trong lĩnh vực chính trị , kinh tế, xã hội, văn hóa, dân sự và các lĩnh vực khác trên cơ sở bình đẳng nam nữ bất kể tình trạng hôn nhân của họ như thế nào.

“Bất bình đẳng giới làm giảm năng suất trong các doanh nghiệp, làm suy yếu khả năng quản lý nhà nước của một quốc gia – qua đó đã giảm bớt hiệu lực của chính sách phát triển” [6, tr. Cái giá phải trả về cuộc sống con người cũng là cái giá cho sự phát triển vì nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân cũng là mục tiêu cuối cùng của sự phát triển. Tuy nhiên, bất bình đẳng giới cũng gây thiệt hại cho năng suất, tính hiệu quả và tiến bộ kinh tế. Bằng cách cản trở quá trình tích lũy vốn của con người trên thị trường lao động, bằng cách gạt bỏ một cách có hệ thống không cho phụ nữ tiếp cận các nguồn lực, dịch vụ công cộng hay các hoạt động sản xuất, sự phân biệt đối xử theo giới đã kìm hãm khả năng tăng trưởng của nền kinh tế và nâng cao đời sống nhân dân.

Vậy câu hỏi đặt ra là: Tại sao bất bình đắng giới vẫn còn dai dẳng? Vì: Các thể chế xã hội – các chuẩn mực, tập quán xã hội, văn hóa, quyền hạn, luật lệ cũng như các thể chế kinh tế thị trường. Chẳng hạn như trên thị trường đang định hình cho mối quan hệ giữa nam và nữ, tác động đến loại nguồn lực nào mà họ được quyền tiếp cận đến, hoạt động hay nguồn lực nào mà họ không được phép tham gia, 10 và họ có thể tham gia vào nền kinh tế xã hội dưới hình thức nào. Và ta có thể dễ dàng nhận thấy phụ nữ bị giới hạn nhiều hơn hay ít có cơ hội và quyền lực tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội so với nam giới. Ngay cả khi chúng không công khai phân biệt nam nữ thì những thể chế chính thức hoặc không chính thức vẫn chịu tác động của các chuẩn mực xã hội, tập quán xã hội, văn hóa,… về những vai trò thích hợp theo giới.

Cũng giống như thể chế, hộ gia đình đóng vai trò cơ bản trong việc định hình mối quan hệ giới ngay từ khi bắt đầu cuộc sống con người và truyền từ đời này sang đời khác. Các quyết định được đưa ra hầu hết là trong phạm vi gia đình như việc có con và nuôi dạy chúng, làm việc gì, làm như thế nào, đầu tư cho tương lai. Nguồn lực sản xuất trong gia đình được phân bổ như thế nào giữa con trai và con gái, chúng được trao quyền tự chủ đến đâu, kỳ vọng của cha mẹ vào con trai và con gái có khác nhau không? Tất cả những quyết định này sẽ ảnh hưởng đến sự phân biệt giới. Nhưng các quyết định trong gia đình không đưa ra một cách biệt lập mà lại bị ảnh hưởng của cộng đồng, tập quán văn hóa xã hội nơi họ đang sống.

Và bởi vì nền kinh tế quyết định rất nhiều cơ hội mà con người có thể nâng cao mức sống của mình nên chính sách phát triển kinh tế có tác động mạnh mẽ đến sự bất bình đẳng giới. Thu nhập cao hơn có nghĩa là những hạn chế về nguồn lực trong gia đình khiến cha mẹ phải cân nhắc giữa đầu tư cho con trai hay con gái sẽ ít hơn mà thay vào đó cha mẹ nào cũng muốn sự đầu tư công bằng cho các con của mình. Những phụ nữ bị ảnh hưởng thu nhập như thế nào còn tùy thuộc vào những hoạt động tạo ra thu nhập hiện có của họ là gì và việc nữ giới và nam giới có thể tham gia bình đẳng như nhau hay không và những nỗ lực, kỹ năng của họ cóđược trả lương công bằng. Các thước đo bất bình đẳng giới Chỉ số phát triển giới (GDI): là chỉ số tổng hợp phản ảnh thực trạng bất bình đẳng giới giữa nam và nữ của một quốc gia hay một vùng, một tỉnh,…, được tính trên cơ sở tuổi thọ trung bình, trình độ giáo dục và thu nhập bình quân đầu người 11 của nam và nữ.

Khi chỉ số GDI tính cho bất kỳ quốc gia nào càng tiến đến giá trị 0, thì mức độ chệnh lệch giữa hai giới ngày càng tăng và ngược lại. Chỉ số GDI được UNDP đưa ra và xây dựng cách tính toán từ năm 1995. Chỉ số phát triển về giới là một chỉ số tổng hợp đo lường phát triển con người trên ba lĩnh vực giống như trong chỉ số phát triền con người HDI ( tuổi thọ, học vấn và thu nhập) nhưng đã điều chỉnh để xem xét sự bất bình đẳng giới trong lĩnh vực này. Về cơ bản GDI vẫn dựa trên những số liệu của HDI nhưng có tính đến sự can thiệp của yếu tố giới để qua đó đánh giá trình độ phát triển giới của mỗi quốc gia.

Sự khác biệt so với HDI là ở chổ chỉ số GDI điều chỉnh mức độ đạt được của mỗi quốc gia về tuổi thọ, học vấn và thu nhập cùng với mức độ đạt được của nam giới và nữ giới (UNDP, 1995). Do bất bình đẳng giới có mặt ở hầu hết các nước nên chỉ số GDI thường thấp hơn so với HDI. Về mặt đo lường, việc đưa ra chỉ số GDI không yêu cầu sự tính toán phức tạp và cũng không cần đo đạc thêm số liệu mà hoàn toàn dựa trên các kết quả thống kê về HDI nhưng có sự tính toán tách biệt cho hai giới. Chính vì vậy có người đã gọi GDI là một biến thể khác của HDI, có ý nghĩa bổ sung chứ không hề mâu thuẫn với HDI.

Chỉ số GDI giảm xuống khi mức độ đạt được của cả nam giới và nữ giới giảm xuống hoặc khi sự chênh lệch về những gì đạt được của nam và nữ tăng lên. Sự chênh lệch về những khả năng cơ bản giữa nam và nữ càng tăng thì chỉ số GDI càng thấp khi so sánh với HDI. Hiện nay, nhu cầu đối với việc tính toán chỉ số phát triển giới (GDI) ngày càng trở nên rõ ràng. Đo lường được chỉ số phát triển giới sẽ cung cấp cơ sở quan trọng để từ đó các cơ quan chức năng xây dựng các chương trình, chính sách hướng tới sự phát triển của cộng đồng nói chung và cho từng giới nói riêng góp phần thực hiện mục tiêu vì sự phát triển cho phái nữ.

Việc sử dụng GDI trong đánh giá của các tổ chức của Liên Hiệp Quốc về mức thang phát triển của mỗi quốc gia khu vực hiện nay đã trở nên phổ biến. Mặc dù hoàn toàn dựa trên cách tính toán của HDI nhưng trong một số trường hợp GDI đã thay thế HDI trong các đánh giá phát triển liên quan đến các yếu tố giới. 12 Thước đo quyền lực theo giới tính (GEM) Đo lường mức độ trao quyền về giới là một trong những chỉ số được sử dụng để đánh giá mức độ bất bình đẳng giới. Chỉ số này được giới thiệu trong báo cáo phát triển con người năm 1995 cùng với chỉ số GDI.

Nó tập trung vào ba biến số phản ánh sự tham gia của phụ nữ vào quá trình đưa ra các quyết định về chính trị và việc tiếp cận của họ đối với các cơ hội mang tính nghề nghiệp (có chuyên môn) và quyền kiếm sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ