phần mở đầu, 2 chƣơng, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở NÔNG THÔN 1. Vấn đề dân chủ trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và các văn kiện của Đảng Xung quanh quan niệm về dân chủ, cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu, luận bàn. Ở đây chúng tôi chỉ kế thừa và nêu lên một số nét có tính chất khái quát.
Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị có nguồn gốc từ xã hội Hy Lạp cổ đại. Ở đây, "dân chủ" là một từ ghép bao gồm hai chữ: Dêmos, có nghĩa là ngƣời bình dân, là dân chúng (không phải là quý tộc, cũng không phải là nô lệ), và Kratia - có nguồn gốc từ chữ Kratos - có nghĩa là quyền lực cai trị, sức mạnh. Do vậy, từ nguyên Dêmos Kratia có nghĩa là dân chủ, quyền lực, là sự thống trị, nền cai trị của ngƣời bình dân. Nó đƣợc biểu hiện theo nghĩa đối lập với chế độ độc tài.
Theo đó, dân chủ có nghĩa là quyền lực của nhân dân; dân chủ là sự cai trị của nhân dân. Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực, trong đó quyền lực chính trị là quan trọng nhất để tổ chức, quản lý xã hội, thực hiện sự nghiệp giải phóng xã hội, giải phóng con ngƣời. Từ khi xuất hiện cho đến nay nội dung của khái niệm dân chủ đƣợc chuyển hóa ra nhiều ngôn ngữ trên thế giới. "Dân chủ" có nghĩa chung là quyền lực của ngƣời bình dân, quyền làm chủ xã hội, và làm chủ bản thân con ngƣời, là quyền làm chủ của nhân dân trong xã hội.
Càng ngày, khái niệm dân chủ càng đƣợc mở rộng nhiều hơn, mang nhiều nội dung mới mẻ hơn, nó đƣợc gắn với ý thức chính trị, gắn với chính quyền của nhân dân, gắn với tiến trình lịch sử của xã hội loài ngƣời. Đồng thời nó còn là giá trị xã hội nhân văn, đánh dấu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com những nấc thang tiến bộ của xã hội loài ngƣời. Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, ở buổi bình minh của lịch sử nhân loại, trƣớc sức mạnh huyền bí của thiên nhiên hoang sơ, để tồn tại và phát triển, con ngƣời buộc phải gắn bó với nhau thành cộng đồng để tạo nên sức mạnh cộng đồng. Và con ngƣời, ngay từ buổi đầu ấy đã sử dụng sức mạnh cộng đồng để thực hiện quyền sống, quyền tự do, quyền mƣu cầu hạnh phúc.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân chủ đƣợc xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, mang bản chất giai cấp công nhân, dƣới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo nhân dân đối với xã hội. Hồ Chí Minh là nhà lí luận và thực hành dân chủ tiêu biểu của Việt Nam trong thế kỷ XX. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo và phát triển tƣ tƣởng dân chủ của C. Lê nin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, Ngƣời không chỉ nêu lên hệ thống những quan điểm về vai trò, bản chất của dân chủ mà còn chỉ ra những giải pháp quan trọng nhằm xây dựng một nền dân chủ mới gắn liền với sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con ngƣời ở Việt Nam trong thời đại mới, từ sau thắng lợi cách mạng Tháng Mƣời Nga Khi bàn về vai trò của dân chủ, Hồ Chí Minh là ngƣời nhìn thấy rõ sức mạnh của nhân dân: Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân.
Trong thế giới này không gì mạnh bằng lực lƣợng đoàn kết của nhân dân. Và chính Ngƣời đã huy động sức mạnh của toàn dân trong cuộc đấu tranh tự giải phóng mình, góp phần đƣa dân tộc Việt Nam từ địa vị nô lệ tới độc lập tự do, đƣa nhân dân ta lên địa vị là chủ đất nƣớc, làm chủ xã hội. Ngƣời luôn tìm mọi cách để làm cho nhân dân biết hƣởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Việc giáo dục dân tự ý thức đƣợc vai trò làm chủ xã hội ở một dân tộc hàng ngàn năm bị phong kiến phƣơng Bắc đô 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hộ, hàng trăm năm bị chủ nghĩa thực dân thống trị và trình độ dân trí thấp nhƣ ở nƣớc ta là điều Ngƣời luôn trăn trở, dồn hết tâm lực để tranh đấu, thực hiện.
Với Hồ Chí Minh, “dân chủ là của quý nhất của nhân dân ” [25, tr.279] thực hành dân chủ một cách rộng rãi là chiếc chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi khó khăn. Từ việc khẳng định địa vị pháp lý (dân là chủ) đến việc hiện thực hóa lý tƣởng đó, Ngƣời luôn đòi hỏi phải nâng cao vai trò, năng lực không chỉ ở chủ thể lãnh đạo, quản lý trong việc hoàn thiện thể chế, cơ chế mà quan trọng hơn nữa là tạo mọi điều kiện cho nhân dân đủ năng lực và bản lĩnh làm chủ. Là nhà tƣ tƣởng, nhà tổ chức của cách mạng Việt Nam, Ngƣời đã giải quyết thấu tình, đạt lý những nội dung đó hơn ai hết, Hồ Chí Minh thấy rõ dân chủ là động lực, là sức mạnh để xây dựng một xã hội ấm no, tự do bình đẳng, hạnh phúc. Chính vì vậy, Ngƣời luôn nhắc nhở cán bộ lãnh đạo rằng: Có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên đƣợc tất cả lực lƣợng của nhân dân, đƣa cách mạng tiến lên.
Nhƣ thế, dân chủ không chỉ là quyền lực thuộc về nhân dân, làm cách mạng trao quyền làm chủ cho nhân dân lao động là đủ, mà quan trọng hơn là bằng phƣơng pháp quản lý dân chủ để làm sao cho nhân dân biết hƣởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm. Tƣ tƣởng ấy có sức mạnh khơi dậy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân. Khi bàn về bản chất của dân chủ, Hồ Chí Minh khẳng định: “Nƣớc ta là nƣớc dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ” [22, tr. Điều đó có nghĩa là, Ngƣời đã xác định trên thực tế địa vị ngƣời chủ của nhân dân đối với xã hội, đất nƣớc.
Đây là sự khẳng định quan trọng thể hiện sự thay đổi mang tính cơ bản trong vị thế, tƣ cách của nhân dân trong đời sống xã hội. Tuy nhiên giữa địa vị “là chủ” và trình độ “làm chủ” của nhân dân trên thực tế có khoảng cách rất lớn. “Là chủ” nhƣng chƣa hẳn đã có thể “làm chủ” bởi có thể làm chủ trên danh nghĩa chứ chƣa đƣợc làm chủ trên thực tế. Từ “dân là chủ” đến “dân làm chủ” là cả một quá trình phát triển và trƣởng thành về năng lực thực hành về 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân chủ của nhân dân.
Điều đó hoàn toàn không dễ dàng, nếu không nói là hết sức khó khăn, phức tạp. Để dân chủ trở thành một tổ chức nhà nƣớc, thông qua tổ chức và quản lý của Nhà nƣớc mà nhân dân thực hiện quyền lực của mình đối với xã hội, Hồ Chí Minh đặc biệt nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng chế độ dân chủ, thể chế chính trị và thể chế nhà nƣớc dân chủ, trong đó có thể chế dân chủ của Đảng, nhất là khi Đảng đã ở vào vị trí cầm quyền. Thực chất của chế độ dân chủ chính là chế độ ủy quyền của dân vào nhà nƣớc và nhà nƣớc là cơ quan quyền lực của nhân dân, thực thi sự ủy quyền của dân. Xây dựng thể chế thì trƣớc hết phải xây dựng chính quyền Nhà nƣớc mà chính quyền đó phải là chính quyền dân chủ, ngƣời chủ thực sự không ai khác chính là nhân dân.
Hồ Chí Minh không chỉ đề cập tới vai trò của Nhà nƣớc nói chung mà còn đặc biệt nhấn mạnh vai trò của Chính phủ - cơ quan hành pháp của Nhà nƣớc. Chính phủ điều hành, quản lý nhà nƣớc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Một chính phủ tốt phải là Chính phủ do dân cử ra, mỗi thành viên trong Chính phủ phải trực tiếp do dân lựa chọn: Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ƣơng do dân cử ra. Để xứng đáng với sự ủy thác, tin cậy của dân chúng thì Chính phủ phải hành động vì lợi ích của nhân dân, nhiệm vụ của Chính phủ là ngƣời đầy tớ trung thành, tận tụy của nhân dân, nhân dân có quyền đôn đốc và phê bình Chính phủ, Hồ Chí Minh đã xác lập một hệ thống các quan điểm về những vấn đề nhà nƣớc từ lựa chọn mô hình nhà nƣớc dân chủ đến một loạt chƣơng trình hành động cụ thể, chi tiết cho sự ra đời của nhà nƣớc đó ở Việt Nam ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công, xây dựng Nhà nƣớc đó thực sự là Nhà nƣớc dân chủ.
Đó là kết quả của trình độ, phƣơng pháp sáng tạo trong quản lý, trong thực hành dân chủ, là hệ quả của cả một quá trình khảo sát, kiểm nghiệm lựa chọn, xác định mô hình thể chế của nhà hoạt động chính trị Hồ Chí Minh. Lần đầu tiên trong lịch sử nƣớc nhà, chính quyền nhà nƣớc đã đƣợc trao vào tay “dân chúng số nhiều” nhƣ ƣớc nguyện cũng là bài học lịch sử mà Chủ 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tịch Hồ Chí Minh đã rút ra từ kinh nghiệm của các cuộc cách mạng đi trƣớc, để tránh cho nhân dân khỏi hy sinh nhiều lần, để dân chúng đƣợc thực sự hạnh phúc. Giá trị xã hội đích thực của dân chủ là giành về cho đại đa số nhân dân lao động quyền lực của chính họ thông qua đấu tranh cải tạo xã hội cũ và xây dựng xã hội mới. Đó là quyền dân chủ, quyền tự do, công bằng, bình đẳng thực sự của quần chúng nhân dân.
Chính vì vậy, trong suốt cuộc đời hoạt động chính trị của mình từ khi ý thức đƣợc nỗi nhục mất nƣớc, ra đi tìm đƣờng cứu nƣớc đến khi phải từ giã cõi đời, Hồ Chí Minh chỉ có một ham muốn, ham muốn đến tột bậc là làm cho nƣớc nhà đƣợc độc lập, nhân dân đƣợc tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng đƣợc học hành. Ngƣời đã làm tất cả để thực hiện Độc lập - Tự do - Hạnh phúc cho Tổ quốc, dân tộc và nhân dân. Ngƣời đã rút ra một chân lý vĩnh hằng không chỉ cho dân tộc mà còn cho cả nhân loại “Không có gì quý hơn độc lập tự do”.