phần mở đầu và kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận về việc thực hiện thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở trường học. Chƣơng 2: Thực trạng việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT trên địa bàn huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chƣơng 3: Một số quan điểm, giải pháp và kiến nghị góp phần nâng cao việc thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở trong các trường THPT trên địa bàn huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai 7 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở TRƢỜNG HỌC 1. Lý luận chung về dân chủ 1.Khái niệm dân chủ Thuật ngữ “dân chủ” đã xuất hiện trong lịch sử loài người từ thời Hy Lạp cổ đại.
Hêrôđôt (484-425 TCN) là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ này với nghĩa khởi thủy là quyền lực thuộc về nhân dân. Theo từ điển Triết học (do M. Rodentan biên soạn): “dân chủ là một trong những hình thức chính quyền mà điều đặc trưng là việc tuyên bố chính thức nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số và thừa nhận quyền tự do và bình đẳng của công dân”. 118] Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do.
Như vậy, có thể hiểu ngắn gọn dân chủ là quyền làm chủ thuộc về nhân dân. Trái với dân chủ là không dân chủ. Không dân chủ có nghĩa là một người, một nhóm người hoặc một tập đoàn người làm chủ. Chế độ độc tài, quân chủ, chuyên chế không có dân chủ.
Dân chủ là động lực của sự phát triển xã hội; còn không dân chủ là làm cản trở sự phát triển xã hội. Bởi vì dân chủ là quyền lợi chính đáng của người dân, được hưởng quyền dân chủ, được hưởng lợi ích vật chất và tinh thần một cách chính đáng. Khi con người được hưởng quyền dân chủ chính đáng của mình thì cũng có nghĩa là họ được đối xử bình đẳng, công bằng. Khi đó, họ sẽ phát huy cao nhất khả năng của mình, hết mình cống hiến cho xã hội, qua đó thúc đẩy xã hội phát triển.
Xã hội càng dân chủ thì càng phát triển nhanh vì càng khơi dậy được tính tích cực của con người. 8 Trong thời kỳ Cộng sản nguyên thủy, con người sống theo bầy đàn, xã hội chưa có sự phân chia giai cấp thì chưa có khái niệm dân chủ nhưng đã xuất hiện hình thức dân chủ đầu tiên trong lịch sử loài người. Ở đó, con người cùng chung sống, cùng lao động và cùng sử dụng sản phẩm thu được. Đây được coi là một hiện tượng dân chủ.
Khái niệm dân chủ xuất hiện khi có sự ra đời của chế độ chiếm hữu nô lệ. Lúc này, cùng với sự xuất hiện của chế độ tư hữu, trong xã hội đã có sự phân chia giai cấp. Giai cấp chủ nô đã thiết lập một bộ máy bảo vệ cho mình, đó chính là nhà nước chủ nô-nền dân chủ chủ nô được hình thành. Ở đây, giai cấp nô lệ không có quyền lực, ngay cả quyền định đoạt số phận cho mình, họ được coi như là tài sản, là công cụ lao động của giai cấp chủ nô.
Trong tác phẩm Nhà nước và cách mạng, V.Lênin cho rằng Nhà nước chủ nô là hình thái dân chủ đầu tiên trong lịch sử nhưng không phải dành riêng cho nhân dân với tư cách là số đông mà là cho giai cấp chủ nô. Có thể thấy trong xã hội chiếm hữu nô lệ, quyền lực chính trị thuộc về giai cấp chủ nô. Khi nhà nước phong kiến ra đời thay thế nhà nước chủ nô, nền dân chủ chủ nô được thay thế bằng nền quân chủ phong kiến. Quyền lực hoàn toàn nằm trong tay nhà vua, giai cấp quý tộc, phong kiến, người dân hầu như không có quyền dân chủ.
Với phương thức “cha truyền con nối”, quyền lực của vua lại truyền cho con cháu, nhân dân không có cơ hội nắm giữ quyền lực. Khi sản xuất phát triển lên một bước mới, giai cấp tư sản hình thành đầu tiên ở phương Tây, trong vòng 300 năm đã tiến hành các cuộc cách mạng Tư sản lật đổ chế độ phong kiến, thiết lập Nhà nước Tư sản. Từ đây, nền dân chủ Tư sản được thiết lập. Đây là một bước tiến mới trong lịch sử nhân loại, giải phóng con người, con người được trao cho nhiều quyền tự do (tự do ngôn luận, tự do kinh doanh, tự do tín ngưỡng, tôn giáo…).
Tuy nhiên, về bản chất 9 thì dân chủ Tư sản vẫn dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Tư liệu sản xuất vẫn nằm trong tay giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số trong xã hội. Giai cấp vô sản, nhân dân lao động là người tạo ra của cải vật chất chủ yếu cho xã hội, họ là người tạo ra giá trị thặng dư cho giai cấp tư sản nhưng họ lại bị giai cấp tư sản bóc lột. Do đó, trong thực thế dân chủ chỉ thực sự có đối với giai cấp tư sản, giai cấp chiếm thiểu số nhưng lại nắm trong tay phần lớn của cải trong xã hội; còn nhân dân lao động chỉ có quyền tự do dân chủ về hình thức hoặc một ít quyền dân chủ về chính trị.Lênin, dân chủ tư sản luôn là một chế độ dân chủ với thiểu số, là một thứ dân chủ đối với kẻ giàu.
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng Mười Nga, lịch sử đã sang trang, chế độ Xã hội chủ nghĩa ra đời. Nhà nước chuyên chính vô sản đầu tiên ra đời là nước Nga Xô viết và một số nước khác sau đó là Việt Nam, Trung Quốc… Nền dân chủ Tư sản thay thế bằng nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa, một nền dân chủ thực sự khi tất cả mọi người dân được trao mọi quyền lực của đất nước. Trong đó họ được quyền quyết định vận mệnh của đất nước, được tham gia xây dựng Nhà nước bằng phổ thông đầu phiếu… Ở Việt Nam, sau thắng lợi của cách mạng Tháng Tám, thành lập nhà nước Dân chủ nhân dân, đưa nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người làm chủ đất nước. Từ đây, thành lập nhà nước Dân chủ nhân dân, quyền dân chủ của nhân dân được khẳng định trong Hiến pháp.
Ruộng đất thuộc về nông dân, nhà máy, xí nghiệp được công nhân làm chủ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa và sau đó là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam-nhà nước mang bản chất của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc được thành lập. Từ khi thành lập đến nay, nền dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã tỏ rõ tính ưu việt của nó trong công cuộc xây dựng đất nước ngày càng phồn thịnh. 10 Quan điểm về dân chủ của Đảng cộng sản Việt Nam Vấn đề dân chủ, ngay từ đầu đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh hết sức quan tâm: “Nói về dân chủ, Hồ Chí Minh trước hết là nói về quyền được làm chủ, quyền được hưởng thụ nền dân chủ của người dân trong một thể chế chính trị-xã hội.
Trong Tuyên ngôn độc lập đọc ngày 02/9/1945 tại Ba Đình, Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích dẫn Tuyên ngôn độc lập của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền bình đẳng ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Tiếp đó, Người trích dẫn Tuyên ngôn Nhân quyền và dân quyền của Cách mạng Pháp năm 1789: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi””[28, tr. Dân chủ ở Việt Nam không giống như dân chủ ở các chế độ xã hội trước đó, mà “Ở Việt Nam cũng như các nước XHCN trước đây thường nói về tính ưu việt của dân chủ XHCN.
Đây là nền dân chủ dành cho tuyệt đại đa số nhân dân chứ không phải là nền dân chủ dành cho thiểu số như các nước TBCN. Nền dân chủ XHCN có tính ưu việt, tính thống nhất ở cơ sở kinh tế là chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, ở mục tiêu xây dựng XHCN, ở sự thống nhất ý chí và hành động của toàn bộ hệ thống chuyên chính vô sản của toàn dân” [28, tr. Thật vậy, ngay từ khi chính quyền nhân dân mới thành lập, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa ra đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định quyền lực Nhà nước là của nhân dân: “Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân, làm cho mọi công dân Việt Nam thực sự tham gia công việc quản lí của Nhà nước” [26, tr. “Lấy dân làm gốc” luôn xuyên suốt trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Người đã chỉ rõ rằng: “Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm cũng được. Không có, thì việc gì 11 làm cũng không xong. Dân chúng biết giải quyết nhiều vấn đề một cách giản đơn, mau chóng, đầy đủ, mà những người tài giỏi, những đoàn thể to lớn, nghĩ mãi không ra” [24, tr. Người nhấn mạnh việc thực hiện dân chủ ở từng địa phương, từng cơ sở, từng cán bộ, từng người dân và từng công việc cụ thể; vận động tất cả lực lượng phải làm cho dân hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong vai trò là người làm chủ đất nước.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “chế độ ta là chế độ dân chủ, tư tưởng phải được tự do. Tự do là thế nào? Đối với mọi vấn đề, mọi người tự do bày tỏ ý kiến của mình, góp phần tìm ra chân lý. Đó là một quyền lợi mà cũng là một nghĩa vụ của mọi người” [25, tr. Vì vậy, Người đặt ra yêu cầu: “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương” [24, tr.
Dân chủ là vấn đề có tầm quan trọng và mang ý nghĩa quyết định, nên ngay từ khi ra đời, Đảng và Nhà nước ta đã đặc biệt quan tâm đến vấn đề dân chủ và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, coi đó là một vấn đề hệ trọng, có ý nghĩa chiến lược sâu sắc đối với sự phát triển đất nước.