Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH TINH GIẢN BIÊN CHẾ 1. Một số khái niệm cơ bản * Khái niệm biên chế Theo Nghị định số 71/2003/NĐ-CP, ngày 19/6/2003 của Chính phủ về phân cấp quản lý biên chế hành chính sự nghiệp nhà nước đã đưa ra khái niệm: Biên chế hành chính là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch công chức hoặc giao giữ một công vụ thường xuyên trong các tổ chức giúp bộ trưởng, thứ trưởng cơ quan ngang bộ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, HĐND, UBND huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý hành chính nhà nước được giao”, “biên chế sự nghiệp là số người được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một ngạch viên chức, hoặc được giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong các đơn vị sự nghiệp nhà nước về giáo dục và đào tạo, khoa học, y tế, văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao và các đơn vị sự nghiệp khác do cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập để phục vụ nhiệm vụ quản lý nhà nước hoặc để thực hiện một số dịch vụ công của bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, và HĐND, UBND cấp tỉnh, cấp huyện theo quy định của pháp luật” […NĐ71] Theo Nghị định 115/2005/NĐ-CP của Chính phủ: Biên chế của các tổ chức khoa học và công nghệ là “kế hoạch biên chế số lượng người làm việc của đơn vị, được lập ra nhằm bảo đảm khối lượng công việc của tổ chức khoa học công nghệ. Thủ trưởng tổ chức khoa học công nghệ tự quyết định số lượng biên chế căn cứ vào tính chất, khối lượng công việc và nguồn thu của đơn vị tự quyết định hình thức tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch viên chức theo quy định của nhà nước và giao nhiệm vụ cho viên chức theo hợp đồng” [… NĐ115]. Có thể hiểu, biên chế của đơn vị sự nghiệp chỉ là số người cần để 9 n làm việc do đơn vị tự quyết định, không sử dụng làm căn cứ để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên từ ngân sách nhà nước.
Theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ, tại Điều 3, khoản 1 thì: “Biên chế” được hiểu: biên chế cán bộ, biên chế công chức, số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập và lao động hợp đồng được cấp có thẩm quyền giao theo quy định của pháp luật. Ở nước ta hiện nay, biên chế là căn cứ để cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm của cơ quan, đơn vị, tổ chức. Biên chế trong cơ quan nhà nước được hiểu là số người làm việc trong cơ quan để thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao và được hưởng lương từ ngân sách nhà nước, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và giao làm căn cứ cấp kinh phí hoạt động thường xuyên hàng năm. * Khái niệm về tinh giản biên chế Theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP, ngày 20/11/2014 của Chính phủ, tại Điều 3, khoản 2 thì: “Tinh giản biên chế” được hiểu là việc đánh giá, phân loại, đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không thể tiếp tục bố trí sắp xếp công tác khác và giải quyết chế độ, chính sách đối với những người thuộc diện tinh giản biên chế.
Như vậy, tinh giản biên chế là việc áp dụng các giải pháp phân loại, sàng lọc loại ra khỏi bộ máy những biên chế không cần thiết làm để cho đội ngũ chất lượng hơn, tinh gọn hơn. Mục đích của tinh giản biên chế là làm cho biên chế của cơ quan, đơn vị tổ chức có chất lượng hơn, hợp lý hơn. Mục tiêu của tinh giản biên chế không đơn thuần là giảm về số lượng cán bộ, công chức, viên chức, giảm chi phí hành chính, giảm ngân sách nhà nước. Mục tiêu chính của tinh giản biên chế là làm cho chất lượng, số lượng, cơ cấu của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, nhất là phẩm chất đạo đức nghề nghiệp, chất lượng chuyên môn ngày một tốt hơn, ngày một nâng cao, hợp lý hơn và như vậy 10 n tinh giản biên chế không mâu thuẫn với việc tuyển dụng mới cán bộ, công chức, viên chức, tạo cơ sở để tuyển dụng mới cán bộ, công chức, viên chức, vào bộ máy.
Tinh giản biên chế không thuần túy giảm theo số lượng mà phải tinh giản theo cơ cấu cán bộ, công chức, viên chức. Quan niệm chính xác và đầy đủ như vậy thì khi tiến hành tinh giản không chỉ tinh giản những cán bộ, công chức, viên chức đến tuổi nghỉ hưu hoặc không đủ sức yếu để làm việc mà phải xem xét tinh giản cán bộ, công chức, viên chức theo cơ cấu: cụ thể theo ngạch, bậc nếu dôi dư cán bộ, công chức, viên chức ở ngạch nào phải tinh giản cán bộ, công chức, viên chức ở ngạch bậc ấy; theo trình độ đào tạo: nếu thừa cán bộ, công chức, viên chức ở trình độ đào tạo nào cần phải tinh giản cán bộ, công chức, viên chức ở trình độ ấy; theo giới tính nếu dôi dư cán bộ, công chức, viên chức theo giới tính nào thì phải tinh giản theo giới tính đó v. * Khái niệm chính sách tinh giản biên chế Có thể nghiên cứu các khái niệm về chính sách công, như sau: “Chính sách công là tập hợp các quyết định chính trị có liên quan của nhà nước nhằm lựa chọn các mục tiêu cụ thể với giải pháp và công cụ thực hiện giải quyết các vấn đề của xã hội theo mục tiêu xác định của đảng chính trị cầm quyền” [14, tr. “Chính sách công là chính sách của Nhà nước là kết quả cụ thể hóa chủ trương, đường lối của Đảng cầm quyền thành các quyết định, tập hợp các quyết định chính trị có mối liên quan với nhau với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm giải quyết các vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nước, phát triển kinh tế - xã hội và phục người dân”.
Theo Quy định tại Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 34/2016/NĐ- CP, ngày 14/5/2016 của Chính phủ: “Chính sách là định hướng, giải pháp của Nhà nước để giải quyết các vấn đề của thực tiễn nhằm đạt được mục tiêu nhất định”. 11 n Từ khái niệm chung của chính sách công, có thể đưa ra định nghĩa: Chính sách tinh giản biên chế là quan điểm, là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà nước về tinh giản biên chế với mục tiêu, giải pháp cụ thể nhằm phân loại, đánh giá, sàng lọc đưa ra khỏi biên chế những người dôi dư, không đáp ứng yêu cầu công việc, không tiếp tục bố trí công tác công tác khác và giải quyết các chế độ cho họ. Nói cách khác, chính sách tinh giản biên chế là tổng thể những quan điểm, các quyết định của Nhà nước về tinh giản biên chế với mục tiêu, giải pháp, công cụ cụ thể nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thu hút những người có đức, có tài vào hoạt động công vụ trong các cơ quan đảng, nhà nước và tổ chức chính trị - xã hội, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế; góp phần nâng cao năng lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, tiết kiệm, giảm chi thường xuyên, cải cách chính sách tiền lương. Thực hiện chính sách tinh giản biên chế 1.
Khái niệm - Thực hiện chính sách là một khâu quan trọng trong chu trình chính sách, được tiến hành ngay sau khi chính sách được ban hành. Tổ chức thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách thành hiện thực với các đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng, tổ chức thực thi chính sách là trung tâm kết nối các bước trong chu trình thành một hệ thống, nhất là với hoạch định chính sách. So với các khâu trong chu trình chính sách, tổ chức thực thi chính sách có vị trí đặc biệt quan trọng, vì đây là bước hiện thực hóa chính sách trong đời sống xã hội. - Chính sách tinh giản biên chế là chính sách công - chính sách của Nhà nước, thực hiện chính sách tinh giản biên chế cũng phải tuân thủ quy trình, quy định trong thực hiện chính sách công.
Từ đó có thể khái niệm thực hiện chính sách tinh giản biên chế như sau: Thực hiện chính sách tinh giản biên chế là toàn bộ quá trình chuyển ý chí của chủ thể trong chính sách tinh giản biên chế thành 12 n hiện thực với đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu định hướng. Chủ thể thực hiện - Chủ thể chính sách tinh giản biên chế bao gồm: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương cấp tỉnh theo phân cấp của Trung ương trong các cơ quan thuộc chủ thể chính sách tinh giản biên chế; Bộ, ngành Nội vụ có vai trò quan trọng trong tham mưu cho Chính phủ ban hành chính sách tinh giản biên chế. - Theo Nghị định 108/2014/NĐ-CP và Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 108/2014/NĐ- CP, ngày 20/11/2014 về chính sách tinh giản biên chế, quy định trách nhiệm của các cơ quan, đơn vị thực hiện tinh giản biên chế như sau: - Người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ, công chức, viên chức có trách nhiệm: triển khai tinh giản biên chế theo trình tự, thủ tục quy định; phối hợp xây dựng đề án tinh giản biên chế của cơ quan, đơn vị mình trước khi trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; thực hiện quy chế dân chủ của cơ quan; công khai đề án tinh giản biên chế và danh sách đối tượng thuộc diện tinh giản biên chế. - Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, người đứng đầu các tổ chức do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ thành lập mà không phải là đơn vị sự nghiệp công lập: triển khai tinh giản biên chế; chỉ đạo, hướng dẫn các cơ quan, tổ chức, đơn vị trực thuộc tổ chức thực hiện; xây dựng đề án tinh giản biên chế; lập danh sách đối tượng tinh giản biên chế và dự toán kinh phí thực hiện.