Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HÀNH QUYỀN CÔNG TỐ TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA TỘI PHẠM THAM Ô TÀI SẢN 1. Khái niệm Quyền công tố và Thực hành Quyền công tố 1. Khái niệm Quyền công tố “Công tố” có nghĩa là “điều tra, truy tố, buộc tội kẻ có hành vi phạm pháp và phát biểu ý kiến trước Tòa án”. Do vậy Công tố được hiểu là nhân danh Nhà nước để cáo buộc, buộc tội người đã thực hiện hành vi bị coi là tội phạm trước Tòa án.
Ở nước ta, quyền công tố và THQCT gắn với chức năng của VKSND. Hiến pháp năm 1980, 1992, 2013 và Luật tổ chức VKSND năm 1981, 2002, 2014 đều đề cập đến quyền công tố và quy định rõ: “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, khái niệm về Quyền công tố còn có các quan điểm khác nhau: Quan điểm thứ nhất cho rằng: “Các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát nhân dân các cấp đều là hoạt động thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát”. Quan điểm này đánh đồng quyền công tố với kiểm sát việc tuân theo pháp luật (kiểm sát các hoạt động tư pháp) của VKSND.
Nhận thức như trên về quyền công tố là chưa đúng, vì chức năng công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp (kiểm sát việc tuân theo pháp luật) là hai chức năng độc lập, riêng biệt của VKSND đã được Hiến pháp quy định. Trong quá trình thực hiện các khâu công tác kiểm sát, chức năng công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của VKSND luôn song hành, tác động, bổ trợ chặt chẽ với nhau. Quan điểm thứ hai cho rằng “Quyền công tố là nhân danh Nhà nước đưa các vụ việc vi phạm pháp luật, người thực hiện hành vi phạm pháp luật ra Tòa án để xét xử”. Theo nhận thức này, quyền công tố xuất hiện và gắn với Nhà nước và Pháp luật, là quyền lực mà Nhà nước giao cho VKSND thực 9 n hiện chức năng, nhiệm vụ để thực thi pháp luật và các hoạt động tố tụng trong lĩnh vực tư pháp (bao gồm lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính và các lĩnh vực tố tụng khác.
Nếu theo quan điểm này nội dung, phạm vi của quyền công tố của VKSND quá rộng, bao gồm cả trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng nhưc lĩnh vực tố tụng khác như dân sự, hành chính. Quan điểm thứ ba cho rằng “Quyền công tố là quyền lực của Nhà nước giao Viện kiểm sát nhân dân thực hiện việc buộc tội hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội”. Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền buộc tội của VKSND nhân danh Nhà nước đối với người thực hiện hành vi phạm tội và được tiến hành trong lĩnh vực tố tụng hình sự. VKSND có trách nhiệm bảo đảm việc thu thập chứng cứ, tài liệu nhằm chứng minh, quy kết hành vi phạm tội; thực hiện quyền năng truy tố người phạm tội, buộc tội người phạm tội để đề nghị Tòa án tuyên áp dụng hình phạt đối với người phạm tội theo luật định.
Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba nhận thức về khái niệm quyền công tố, vì quan điểm này đã khẳng định được quyền công tố là quyền lực của Nhà nước, giao cho một cơ quan nhà nước là VKSND nhân danh Nhà nước để buộc tội đối với người có hành vi vi phạm mà pháp luật hình sự (tội phạm); đồng thời cũng xác định quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội; truy tố và bảo vệ sự buộc tội trước phiên tòa. Quan điểm này thể hiện quan điểm của Đảng qua các thời kỳ về xây dựng thể chế Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ trương về cải cách nền tư pháp Việt Nam. Khái niệm Quyền công tố: Là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bảo đảm quá trình thu thập tài liệu, chứng cứ đầy đủ, khách quan, toàn diện để chứng minh tội phạm, từ đó quyết định việc truy tố người phạm tội và bảo vệ việc buộc tội đó trước Tòa án. 10 n Đối tượng của quyền công tố: Hiện nay cũng có nhiều quan điểm khác nhau về đối tượng quyền công tố.
Với quan điểm quyền công tố so với với chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp là đồng nhất thì đối tượng của quyền công tố là sự chấp hành pháp luật, tuân thủ trình tự luật định của những người tham gia tố tụng, người tiến hành tố tụng và của các cơ quan tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, về bản chất, kiểm sát việc tuân theo pháp luật (hay còn được hiểu là kiểm sát các hoạt động tư pháp) và quyền công tố là hoàn toàn khác nhau. Bản chất của kiểm sát việc tuân theo pháp luật là việc kiểm tra, giám sát tính có căn cứ và tính hợp pháp, còn bản chất của quyền công tố là trừng phạt những hành vi phạm tội. Với quan điểm hiểu quyền công tố là quyền đại diện, nhân danh Nhà nước để đưa các vụ việc, đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật ra trước Tòa án để xét xử nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước, tổ chức, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh, thống nhất thì đối tượng của quyền công tố được coi là các hành vi vi phạm pháp luật mà Nhà nước đã quy định.
Nếu hiểu theo cách này thì đối tượng của quyền công tố tức là các hành vi vi phạm pháp luật rất rộng, không chỉ xảy ra trong lĩnh vực hình sự mà còn có cả trong các lĩnh vực như dân sự, hành chính, kinh tế… Với quan điểm xác định quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà nước để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người có hành vi vi phạm pháp luật bị xác định là tội phạm và quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội đối với người phạm tội, thì đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, do đó Nhà nước phải đại diện xã hội 11 n chứng minh tội phạm và trừng trị người phạm tội bằng các quy định do chính Nhà nước quy định. Tác giả đồng tình với quan điểm thứ ba cho rằng đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội. Nội dung của quyền công tố: Từ việc đồng tình với quan điểm quyền công tố là quyền nhân danh Nhà nước thực hiện việc buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, đối tượng của quyền công tố là tội phạm và người phạm tội, tác giả đồng tình với quan điểm: “Nội dung của quyền công tố là quá trình thực hiện buộc tội đối với người phạm tội (người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội) và bảo vệ việc buộc tội đó trước Tòa án ”.
Trong các hoạt động tố tụng hình sự luôn tồn tại các chức năng: buộc tội (truy cứu trách nhiệm hình sự), gỡ tội (bào chữa), kết tội (xét xử, tuyên án). Chức năng buộc tội chính là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người hoặc pháp nhân thực hiện hành vi bị coi là tội phạm. Cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện chức năng buộc tội có thẩm quyền, trách nhiệm đưa ra các luận điểm, chứng cứ để quy kết, cáo buộc tội phạm. Phạm vi quyền công tố: Như vậy, quyền công tố là quyền lực Nhà nước, được trao cho VKSND bằng việc quy định trong Hiến pháp và pháp luật.
Hiện nay cũng còn nhiều quan điểm khác nhau về phạm vi quyền công tố: Về phạm vi không gian: Có nhiều quan điểm cho rằng quyền công tố không chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự mà còn có cả trong các lĩnh vực khác như tố tụng dân sự, tố tụng hành chính. Tuy nhiên, với quan điểm xác định quyền công tố là quyền đại diện, nhân danh Nhà nước để thực hiện việc buộc tội, truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, tác giả đồng tình với quan điểm quyền công tố chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự. Về phạm vi thời gian (tức thời điểm bắt đầu và kết thúc của quyền công tố): Hiện nay cũng còn nhiều quan điểm: Quan điểm thứ nhất cho rằng “Phạm vi quyền công tố được bắt đầu từ khi Cơ quan điều tra kết thúc việc điều tra tội phạm, Viện kiểm sát thụ lý vụ án và ban hành quyết định truy tố người phạm tội 12 n ra trước Tòa án và kết thúc khi Tòa án xét xử, tuyên bản án có hiệu lực pháp luật đối với người bị buộc tội”. Nếu hiểu theo cách này thì phạm vi quyền công tố sẽ chỉ có ở giai đoạn truy tố của Viện kiểm sát và xét xử của Tòa án; phạm vi quyền công tố bị thu hẹp không đánh giá được hoạt động quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
Quan điểm thứ hai cho rằng “Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án do Tòa án tuyên”. Theo quan điểm này, quyền công tố là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đến cùng đối với người phạm tội; quyền công tố chỉ kết thúc khi người phạm tội chấp hành xong bản án có hiệu lực pháp luật; cách hiểu này quá rộng và không cụ thể về nội dung, đối tượng, phạm vi của quyền công tố. Quan điểm thứ ba cho rằng “Phạm vi quyền công tố được bắt đầu từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án của Tòa án đã tuyên đối với người phạm tội có hiệu lực pháp luật”. Theo quan điểm này khi hành vi phạm tội xảy ra, các cơ quan đại diện cho Nhà nước và được Nhà nước giao thực hiện chức năng, thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội phải tiến hành các hoạt động tố tụng theo luật định nhằm phát hiện, thu thập tài liệu, chứng cứ để chứng minh, xác định tội phạm và người phạm tội, làm cơ sở để buộc tội và kết tội người phạm tội.