Chương 1. Cơ sở lý luận về chính sách công nghệ thân thiện môi trường trong các khu công nghiệp - Chương 2. Thực trạng chính sách ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào - Chương 3. Giải pháp chính sách thúc đẩy ứng dụng công nghệ thân thiện môi trường tại các khu công nghiệp ở nước CHDCND Lào 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH CÔNG NGHỆ THÂN THIỆN MÔI TRƢỜNG TRONG CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1.
Dẫn nhập Chính sách công nghệ thân thiện với môi trường giúp phản ánh rõ nét nhất các mục tiêu của Nhà nước và các giải pháp mà Nhà nước sử dụng để đạt tới các mục tiêu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Việc xây dựng một chính sách bao gồm 3 giai đoạn cơ bản: hoạch định chính sách, thực thi chính sách và đánh giá chính sách. Với cách tiếp cận này, tác giả luận văn tập trung phân tích và luận giải một số vấn đề lý luận về chính sách công nghệ thân thiện môi trường trong các khu công nghiệp để làm tiền đề phân tích các vấn đề tiếp theo của đề tài. Khái niệm về công nghệ thân thiện môi trƣờng Công nghệ thân thiện môi trường là một trong những giải pháp hàng đầu trong công cuộc chống biến đổi khí hậu, đồng thời cũng là một lĩnh vực tràn đầy triển vọng phát triển trong tương lai.Do đó, để đảm bảo sự phát triển bền vững, thế giới đang hướng tới sử dụng những công nghệ thân thiện môi trường (Environmental Sound Technology-EST).
Trong vài thập niên gần đây,vấn đề công nghệ thân thiện môi trường đã được chính phủ cũng như khu vực tư nhân và giới khoa học nhiều nước quan tâm. Tuỳ vào cách tiếp cận mà khái niệm công nghệ thân thiện môi trường có thể được hiểu là : công nghệ sạch (Cleantechnology), công nghệ sạch hơn (cleaner technology), công nghệ ít chất thải (low-waste technology), công nghệ xanh (green technology)… Công nghệ thân thiện môi trường đã được định nghĩa trong Chương 34, Chương trình nghị sự 21 của Liên hợp quốc về Môi trường và Phát triển (UNCED), hay còn gọi là Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất được tổ chức vào năm 1992: “Công nghệ thân thiện môi trường là những công nghệ bảo vệ môi trường, ít gây ô nhiễm hơn, sử dụng mọi nguồn tài nguyên theo hướng bền vững hơn, tái chế được nhiều sản phẩm và phế thải và xử lý rác thải dư thừa một cách hợp lý hơn so với những công nghệ mà nó thay thế”.Henzler lại cho 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com rằng “công nghệ thân thiện môi trường là những công nghệ, bao gồm cả những dịch vụ và hỗ trợ cần thiết, với chức năng cần hoàn thiện nhằm giảm thiểu tác động tới môi trường trong khi vẫn đang hoạt động sản xuất kinh doanh”. Mặt khác, trong bối cảnh ô nhiễm, công nghệ thân thiện môi trường có thể được hiểu là những quy trình tạo ra ít hoặc thậm chí không tạo ra chất thải để ngăn ngừa ô nhiễm. Nó cũng bao gồm cả các công nghệ xanh, công nghệ sạch công nghệ “đầu cuối” để xử lý các vấn đề ô nhiễm mà nó làm phát sinh ra.
“Công nghệ xanh” là sự ứng dụng khoa học môi trường, hóa học xanh, quan trắc môi trường và các thiết bị điện tử để theo dõi, mô hình hóa và bảo tồn môi trường tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên nhằm hạn chế những tác động tiêu cực do ảnh hưởng của con người 1. Hay “Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường, thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm môi trường”. Khoản 11, Điều 4, Luật Bảo vệ Môi trường Lào năm 2013 định nghĩa “công nghệ sạch” là quy trình công nghệ hoặc giải pháp kỹ thuật sử dụng máy móc và thiết bị trong quá trình sản xuất và hoạt động dịch vụ mà không gây ô nhiễm hoặc tạo ra chất thải; Và sử dụng lượng tiêu thụ năng lượng ít nhất để tránh tác động và thiệt hại đối với môi trường”.Trong Giáo trình “Quản lý Khoa học và công nghệ - Khoa Luật Đại học Quốc gia Lào định nghĩa: “công nghệ thân thiện môi trường là công nghệ được tạo ra nhằm ứng dụng vào các hoạt động kinh tế và xã hội của con người; bao gồm hai nội dung chính là giảm thiểu lượng phát thải khí nhà kính và giảm thiểu chất gây ô nhiễm môi trường”[31, tr. Công nghệ thân thiện môi trường, theo chúng tôi, có thể bao gồm công nghệ xanh, công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn.
Công nghệ sạch (cleantechnology) là một tập hợp các quy trình, thực tiễn và công cụ, trong bất kỳ ngành công nghiệp nào hỗ trợ cách tiếp cận kinh doanh bền vững, bao gồm nhưng không giới hạn: kiểm soát ô nhiễm, giảm và quản lý tài nguyên, chiến lược cuối cùng của cuộc sống, giảm chất thải, hiệu suất năng lượng, giảm thiểu cácbon và lợi nhuận. 1 Wikipedia, https://en.org/wiki/Environmental_technology 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Con người luôn khám phá thế giới quan với quan điểm phát triển và rằng công nghệ luôn lạc hậu so với sự phát triển của loài người. Do đó, khái niệm công nghệ sạch hơn ra đời và tồn tại song song với khái niệm công nghệ sạch. Công nghệ sạch hơn về cơ bản giống với khái niệm công nghệ sạch.Tuy nhiên, công nghệ sạch hơn chỉ tập trung vào nhiệm vụ chính là giảm lượng khí thải ô nhiễm; Và nếu có thể thay đổi bản chất của nguồn phát thải ô nhiễm để giảm áp lực và chi phí xử lý cuối đường ống.
Hay nói cách khác, công nghệ sạch hơn là công nghệ trong đó có sự áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa tổng hợp đối với quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường: i) Đối với quá trình sản xuất: công nghệ sạch hơn nhằm giảm tiêu thụ nguyên liệu, nước và năng lượng, giảm các nguyên liệu có tính chất độc hại hay nguy hại, giảm độc tính của phát thải và chất thải tại nguồn trong quá trình sản xuất; ii) Đối với sản phẩm: công nghệ sạch hơn nhằm giảm các tác động của sản phẩm đến môi trường, sức khoẻ và an toàn trong suốt đời sản phẩm, từ khâu nhập nguyên liệu, thông qua quá trình sản xuất và sử dụng cho đến khi thải bỏ; iii)Đối với dịch vụ: công nghệ sạch hơn lồng ghép các quan tâm về môi trường vào quá trình thiết kế và cung cấp dịch vụ. Công nghệ ít chất thải là một khái niệm mới ra đời xuất phát từ những khó khăn về công nghệ mà con người gặp phải đó là sự chững lại của các công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn với sự cho rằng rất khó để đạt được một công nghệ sạch và công nghệ sạch hơn hay công nghệ không chất thải thuần tuý và rằng bởi chúng chỉ mang tính tương đối và để nhằm xử lý tốt hơn vấn đề xả thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp ngày càng nhiều hơn từ con người. Ủy ban Cộng đồng kinh tế châu Âu định nghĩa: "(low-waste technology) là công nghệ sử dụng các kỹ thuật để sản xuất ra một sản phẩm hợp lý nhất với việc sử dụng nguyên liệu và năng lượng, đồng thời làm giảm lượng nước thải gây ô nhiễm môi trường và kiểm soát số lượng chất thải được sinh ra trong quá trình sản xuất". Định nghĩa này cho thấy sự thay đổi trong quá trình nhận thức của các nhà khoa học đó là phát triển của các kỹ thuật kết hợp một cách hợp lý với việc tiết kiệm sử dụng nguyên vật liệu và năng lượng với việc kiểm soát lượng chất thải ở mức thấp nhất có thể.Như chúng ta sẽ thấy, những kỹ thuật này rất hiếm, tuy nhiên, chúng có vẻ thực tế hơn so với việc phải đi tìm các công nghệ không 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất thải phi thực tế.
Nhưng rõ ràng, phải nhìn nhận rằng công nghệ không chất thải phải là công nghệ mà con người nên hướng tới trong tương lai. Nỗ lực của các nhà khoa học trong việc đi tìm công nghệ không chất thải dẫn đễn lý thuyết về phát triển công nghiệp theo cụm ngành (industrial cluster). Thuật ngữ này trở nên phổ biến từ khi được Micheal Porter nhắc tới trong cuốn Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia (1990) và khẳng định “chính sách cụm công nghiệp thành công được xem là một mô hình để phát triển lợi thế cạnh tranh khu vực”[4]. Sự thành công trong ứng dụng lý thuyết này vào phát triển cụm công nghiệp ở một số quốc gia trên thế giới chính là chìa khoá trả lời cho câu hỏi làm thế nào để tạo ra công nghệ không chất thải hoặc ít nhất là công nghệ ít chất thải.
Có thể kể đến mô hình ứng dụng của Mỹ và Nhật Bản sau đây [13]: Tại Mỹ, M. Porter là người tiên phong trong thiết kế mô hình cụm ngành công nghiệp. Porter đặc biệt nhấn mạnh tới các địa điểm cụ thể của các doanh nghiệp vì khoảng cách địa lý có ảnh hưởng đến khả năng chia sẻ thông tin, nguồn lực, sự hiểu biết và các công nghệ tiên tiến.Các Bang Arizona, California, Florida, Minoseta, Bắc Carolina, Ohio, Oregon, Washington dẫn đầu về phát triển các cụm ngành. Cụm công nghiệp tiêu biểu nhất ở Mỹ là thung lũng Silicon, với hơn 2,5 triệu lao động.
Tại Bang Arizona với sự tham gia của trung tâm Porter M. đã xây dựng chương trình đối tác chiến lược để phát triển kinh tế.Kết quả là 9 mô hình cụm công nghiệp được thành lập.Hoạt động của các cụm ngành này cho thấy chúng hoạt động như mạng lưới sản xuất, với mục tiêu cùng học hỏi, cùng nghiên cứu marketing, mua sắm, sản xuất. Ở tất cả các Bang của Mỹ đều thành lập các Ủy ban về phát triển cụm công nghiệp. Các trung tâm nghiên cứu, các trường đại học cũng thực hiện nghiên cứu phát triển các cụm ngành.
Nguồn vốn ban đầu do chính quyền Liên bang cấp, sau đó có thể huy động nguồn vốn tư nhân. Các cụm ngành công nghiệp của Mỹ có mức độ cạnh tranh toàn cầu rất cao. Nhật Bản là một trong những quốc gia áp dụng chính sách phát triển cụm công nghiệp thành công.Từ đầu những năm 2000, Nhật Bản đã xây dựng và triển khai chính sách cụm ngành công nghiệp một cách hệ thống. Để hình thành một cụm ngành công nghiệp, Bộ Công Thương Nhật Bản tiến hành bốn bước: phân tích đặc điểm của địa phương; xác định mạng lưới có thể thiết lập trong phạm vi địa phương; mở rộng phạm vi mạng lưới, và thúc 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đẩy tập trung công nghiệp và đổi mới.