Chương 1 : LÝ LUẬN VE THỪA KE PHAN VON GÓP TRONG CONG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN 1.1 Khái luận về thừa kế Trong pháp luật dân sự, vấn đề thừa kế luôn là vấn đề phức tạp do xung đột quyên lợi của các bên và xuất phát từ đặc trưng là các bên tham gia quan hệ này đều có quan hệ huyết thống hoặc nuôi dưỡng.Chế định thừa kế là một chế định quan trọng trong hệ thống các quy phạm pháp luật dân sự Việt Nam từ Pháp lệnh thừa kế năm 1990 đến Bộ luật dân sự 2005 và mới đây nhất là Bộ luật dân sự 2015. Trong những năm gần đây số lượng các vụ tranh chấp về thừa kế luôn chiếm tỷ trọng lớn trong các tranh chấp dân sự và có tính phức tạp. Bởi vậy việc nghiên cứu, nắm rõ và vận dụng tốt các quy định pháp luật về thừa kế là đòi hỏi cấp thiết của các cơ quan tiến hành tổ tụng khi giải quyết loại tranh chấp này. Quyền thừa kế và quyền để lại thừa kế là một trong những quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo hộ.
Tuy nhiên, do phong tục tập quán, tình cảm gia đình đã làm không ít người bỏ qua quyên thừa kế và quyền được để lại thừa kế. Bên cạnh đó cũng có những trường hợp người dé lại thừa kế đã lập di chúc nhưng do chưa hiểu các quy định pháp luật thừa kế nên di chúc đó không phù hợp với quy định pháp luật, khiến những người thừa kế phải giải quyết tranh chấp bằng pháp luật, làm mat đi tình cảm gia đình. Việt Nam ngày càng phát triển về kinh tế - xã hội, khối lượng tài sản thuộc sở hữu tư nhân có giá trị ngày càng cao và quyền sở hữu cá nhân được luật pháp công nhận và bảo vệ. Tại Điều 32 Hiến pháp năm 2013 quy định: “ Moi người có quyên sở hữu về thu nhập hợp pháp, của cải dé dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phan vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác; Quyên sở hữu tư nhân và quyên thừa kế được pháp luật bảo hộ ”.
Thừa kế là một thực tiễn tồn tại ở tất cả các nước khi mà tài sản là thứ không thê thiếu trong đời sống của con người vì ít nhất người ta phải ăn, mặc, ở. Khi một người chết, trừ khi có tục lệ lạc hậu, man rợ chôn theo người đó tất cả những gi thuộc về người đó, trong vài trường hợp kế cả người thân, thi tài sản để lại cho người còn sống. Xã hội càng hiện đại thì sự phân chia tài sản cho người còn sống càng phức tạp vì trước hết, số lượng tài sản hữu han trong khi số người có nhu cầu được chia thì lớn, thứ đến, nhiều loại tài sản mới ra đời khó khăn trong việc năm bắt và phân chia, ví dụ như quyền sở hữu công nghiệp, phần vốn góp, phần lợi trong các công ty, tài sản ảo. Vì thế thừa kế là một chế định pháp luật ra đời từ khá sớm gắn với luật dân sự, nhất là chế định tài sản và gia đình và mang tính truyền thống cao hơn nhiều chế định pháp luật khác.
Thừa kế tài sản là quá trình dịch chuyên tài san từ người chết (không ké có di chúc hoặc không có di chúc) đến người thừa kế. Từ thời La Mã cô đại, người ta xem đây là vấn đề của luật tài sản. Như vậy là ý nghĩa và vai trò của thừa kế trong đời sống xã hội và nhận thức về vị trí của thừa kế trong pháp luật là khá nhất quán ở Việt Nam. Khi một người qua đời, tài sản mà họ để lại, có thể bao gồm tiền bạc, bất động sản, quyền sử dụng đất, ô tô, tiền gửi ngân hàng, chứng khoán, quyền sở hữu trí tuệ, phần vốn góp, cô phan trong công ty và các loại tài sản có giá trị khác, có thé được chuyên nhượng cho những người thừa kế.
Quyền thừa kế và van dé phân chia di sản thừa kế thường được quy định bởi văn bản quy phạm pháp luật hoặc các quy tắc tập quán tùy theo từng hệ thống pháp luật. Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa: ““Thừa kế là một quan hệ xã hội tất yếu mà nội dung kinh tế của nó là sự phản ánh quá trình dịch chuyên tải sản của người đã chết sang cho người khác còn sống.”'” BLDS 2015 không đưa ra định nghĩa về thừa kế. Tuy nhiên có thé hiểu thừa kế là một phương thức chuyển dịch quyền sở hữu tài sản của người đã chết sang cho cá nhân đang sống hoặc cho pháp nhân đang tồn tai, được pháp luật điều chỉnh. Di sản thừa kế gắn với thừa kế.
Di sản thừa kế nguyên nghĩa là tổng thể tải sản mà người chết để lại và những nghĩa vụ tài sản. Trong “Giáo trình luật dân sự I- Phần chung” của Trường Dai học Luật. DHQGHN, Ngô Huy Cương viết: “Khi chủ sản nghiệp chết thì sản nghiệp của người này được dịch chuyền cho người thừa kế, tức là về nguyên lý, việc nhận di san thừa kế được xem như nhập sản nghiệp của người chết vào sản nghiệp của người thừa kế để trở thành khối toàn nhất, vì vậy người thừa kế phải chi trả cả những khoản nợ của người chết. Vì vậy có thê suy ra đi sản thừa kế bao gồm cả phần tích sản và phần tiêu sản trong sản nghiệp của người chết.
Trong phần tích sản gồm có vật quyền, trái quyên và quyên sở hữu trí tuệ. Thừa kế có hai loại khác nhau: (1) thừa kế theo di chúc; (2) thừa kế theo pháp luật. Thông thường chế độ thừa kế tư nhân tôn trọng di chúc hơn. Khi không có di chúc thì thừa kế theo pháp luật.
Lúc nay di sản thừa kế sẽ được đưa ra ' Truong Dai học Luật Ha Nội, Giáo trình luật dân sự Việt Nam Tập I, Nxb. Tư pháp, Ha Nội, 2022, tr. 3 Trường Dai hoc Luật- DHQGHN, Giáo trình luật dân sự Việt Nam 1- Phần chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023, tr.
* Trường Đại học Luật- ĐHQGHN, Giáo trình luật dân sự Việt Nam 1- Phan chung, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, 2023, tr. chia theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên tùy pháp luật của từng nước, mức độ tôn trọng di chúc còn lệ thuộc vào hoàn truyền thống, phong tục của từng nước.
Chang han ở nước ta, dé bảo vệ truyền thống gia đình tốt đẹp lá lành đùm lá rách, BLDS 2015 đã quy định những trường hợp được thừa kế không lệ thuộc vào di chúc. Điều quy định: “1. Những người sau đây van được hưởng phan di sản bằng hai phần ba suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phan di sản ít hơn hai phần ba suất đó: a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng: b) Con thành niên mà không có khả năng lao động. Quy định tại khoản 1 Điều này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 hoặc họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật này.” Như vậy là khi phân chia di sản thừa kế, một phần di chúc đã bị vô hiệu tuyệt đối nếu đi chúc không chia thừa kế cho những người là con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng hoặc con thành niên mà không có khả năng lao động, trừ trường hợp họ từ chối nhận di sản thừa kế hoặc có hành vi xâm hại tới người để lại đi sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
Đây là sự ảnh hưởng của quan niệm xây dựng xã hội vào pháp luật “Sự tác động của pháp luật vào mọi mặt của đời sống xã hội đã mang lại những tác dụng đặc biệt mà trước đó sự cai quản bằng tập quán không có được. Quyền thừa kế là chế định rất quan trọng trong hệ thống pháp luật dân sự. Nếu sự xuất hiện của thừa kế là tất yếu, là một nhu cầu của xã hội loài người vả ton tại trong mọi hình thái kinh tế - xã hội thì quyền thừa kế chỉ phát sinh khi xã hội phân chia giai cấp và có nhà nước. Quy phạm pháp luật về thừa kế phản ánh bản chất giai cấp tồn tại trong mỗi chế độ xã hội nhất định và có thể thay đổi phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế, xã hội nhất định của mỗi quốc gia.
Ngay tại Việt Nam, pháp luật về thừa kế cũng có sự thay đôi đáng kê qua mỗi thời kì lịch sử, tương ứng với sự vận động và phát triển của các quan hệ xã hội trong mỗi thời kì.” Lập luận này cho thấy rõ tính giai cấp được thê hiện trong các quy định về chia di sản thừa kế nêu trên vì gia đình được Việt Nam coi là một tế bào xã hội cần phải chú ý tới sự chăm sóc và giáo dục con cái và vợ chồng, con cái yêu thương lẫn nhau. Nghĩa vụ cấp dưỡng và trách nhiệm đối với người thân còn sống được nói tới tại các quy định trên. Nó không phải đơn thuần là chia tài sản của người đã chết. Quy trình thừa kế tài sản có thể liên quan đến việc xác định người thừa kế hợp pháp, xác định giá trị của tài sản, giải quyết các nghĩa vụ tài sản của người chết và thực hiện chuyên dịch tài sản từ người đã chết đến người thừa kế hoặc những người thừa kế.
Quy trình này thường được theo dõi hoặc giám sát bởi các cơ quan nhà nước có thâm quyền như tòa án hoặc văn phòng luật sư hay công chứng hay thừa phát lại được chỉ định hợp pháp để đảm bảo sự công bằng và tuân thủ các quy định pháp luật. Kinh nghiệm của Hoa Kỳ [18] cho thấy vấn đề thừa kế được quy định hay thê hiện trong nhiều văn bản và tài liệu khác nhau, có thể bao gom các tài liệu pháp luật và các tài liệu hướng dẫn từ các cơ quan chính quyên cũng như các 5 Dang Thu Hà, Thừa ké theo pháp luật theo Bộ luật Dân su nước Cộng hòa Xã hội chu nghĩa Việt nam 2015, Luận án tiên sỹ, Học viện khoa học xã hội, Hà Nội 2019, tr.