CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE CHE ĐỘ TÀI SAN CUA VO CHONG THEO THOA THUAN 1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa chế độ tài san của vợ chồng theo thỏa thuận 1. Khái niệm chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận Theo quan điểm thuần túy pháp lý của các nhà làm luật tư sản, hôn nhân thực chất là một hợp đồng, một khế ước đo hai bên nam, nữ thỏa thuận, xác lập trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Các quyền và nghĩa vụ của vợ chồng được phát sinh và thực hiện trong thời kỳ hôn nhân cũng giống như các quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng đó.
Cần phải tôn trọng các quyền tự do cá nhân của công dân, của vợ chồng khi thiết lập quan hệ hôn nhân, trong đó có quan hệ tài sản giữa vợ chồng. Vì vậy, pháp luật cho phép trước khi kết hôn, hai bên được quyền tự do ký kết hôn ước (hay còn gọi là khế ước). Đây thực chất là một hợp đồng do hai bên thỏa thuận nhưng không trái với các quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Chế độ tài sản theo thỏa thuận không còn là điều mới lạ với nhiều quốc gia trên thế giới, ngược lại, nó đã tồn tại từ rất sớm.
Trước đây, người La Mã cô đại khi kết hôn thường tự lập thỏa thuận trong đó ghi xác định trước quan hệ tài sản giữa họ với nhau trong cuộc sống tương lai, đồng thời cũng nêu rõ những điều kiện thừa kế tài sản khi một bên vợ (chồng) chết. Ở các nước phương Tây, một trong các đặc thù của pháp luật hôn nhân và gia đình là đề cao quyền tự do cá nhân, tự do thỏa thuận, tự do định đoạt của các chủ thé trong quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là trong quan hệ giữa vợ và chồng. Pháp luật ở các nước này cho phép vợ chồng có quyền thỏa thuận chế độ tài sản trước khi kết hôn, chỉ khi không có thỏa thuận về chế độ tài sản thì sẽ áp dụng chế độ tài sản theo luật định. Trong chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận, vợ chồng có quyền thỏa thuận về việc quản lý tài sản chung, tai sản riêng, việc đóng góp tài sản dé đảm bảo quyền lợi chung cho gia đình, việc phân chia tài sản.
Một số nước trên thế giới đã thừa nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận như: Điều 756 BLDS Nhật Bản quy định: “Nếu vợ hoặc chồng trước khi đăng ky kết hôn không kỷ một hop dong nào nhằm quy định khác di tài sản của mình, thì quan hệ tai sản của họ được diéu chỉnh bởi quy định tại tiểu mục IT (tiểu mục quy định chế định tài sản pháp định)”. Có thê thay quy định này trong BLDS Nhật Bản đã chỉ rõ sự ưu tiên áp dụng việc giao kết hợp đồng của vợ chồng về các vấn đề tài sản của họ, pháp luật chỉ quy định khi vợ, chồng không có thỏa thuận gì về tài sản thì vấn đề tài sản của vợ chồng mới theo quy định của pháp luật. Điều 1465 Bộ Luật dân sự và thương mại Thái Lan quy định: “Khi vochong không có thỏa thuận đặc biệt vé tài sản của họ trước khi kết hôn, thì quan hệ giữa họ về tài sản sẽ được điêu chỉnh bởi những quy định của chương nay. Bắt cứ thỏa thuận nào trong điều khoản trước khi thành hôn trái với trật tự công cộng, đạo đức hoặc quy định là quan hệ giữa hai vợ chong về tài sản đó sẽ được diéu chỉnh bởi pháp luật nước ngoài thì vô hiệu”.
Như vay, với quy định nay, BLDS và thương mai Thái Lan đã cho phép vo chồng có thé xây dựng cho riêng họ các thỏa thuận tiền hôn nhân nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản. Cũng cần lưu ý rằng thỏa thuận này chi dùng dé điều chỉnh quan hệ tài sản mà thôi. Điều 1387 BLDS Pháp “Cong bố về nguyên tắc tự do lựa chọn chế độ tài sản giữa vợ chong va đó là sự tự do có kiển soát”. Quy định này nói rang: “Pháp luật chỉ điều chỉnh các quan hệ tài sản giữa vợ chong khi mà giữa ho không có thỏa thuận đặc biệt liên quan đến van dé nay, miễn là các thỏa thuận đó không trái với đạo đức hoặc các quy định sau đây của pháp luật”.
Quy định 10 này đã gián tiếp cho phép các cặp vợ chồng trước ngưỡng cửa hôn nhân có quyền tự do đưa ra các quy tắc pháp lý áp dụng cho quan hệ tài sản giữa họ. Hoặc là chế độ tài sản họ tự xây dựng nên bang hop đồng hôn nhân, hoặc bang chế độ tài sản luật định. Chế độ tài sản theo luật định đã tồn tại ở Việt Nam từ rất lâu nhưng chế độ tài sản theo thỏa thuận chi được ghi nhận trong một số văn bản tùy từng thời kỳ: Bộ Dân Luật Bắc kì năm 1931, Bộ Dân Luật Trung kì năm 1936, Luật gia đình năm 1959, Sắc luật 15/64. Trong hệ thống Luật HN & GD của Nhà nước Việt Nam từ năm 1945 đến nay, chỉ có Luật HN & GD năm 2014 thừa nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận song song với chế độ tài sản theo luật định.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận. Theo tác giả Nguyễn Văn Cừ “Hôn ước (còn gọi là hôn khé, khế ước) theo pháp luật của các quốc gia phương Tây là sự thỏa thuận bằng văn bản (hợp đồng) do vợ chồng kết lập với nhau từ trước khi kết hôn nhằm điều chỉnh về chế độ tài sản của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân”. Quan điểm khác cho rằng: “Hôn ước là sự thỏa thuận giữa vợ và chồng về việc lựa chọn chế độ quản lý và thanh toán tài sản trong gia đình để áp dụng cho suốt thời kỳ hôn nhân của họ”. Hay: “Chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận là chế độ tài sản mà theo đó vợ chồng cùng thỏa thuận về việc xác lập, thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với tài sản của họ.
Thỏa thuận này được thể hiện dưới dạng văn bản và dưới nhiều tên gọi khác nhau như: Hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hoặc thỏa thuận trước hôn nhân. Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thực chất là một hợp đồng thỏa thuận trên nguyên tắc tự do, tự nguyện. Nên vợ chồng có thể tự thỏa thuận và thỏa thuận cùng với nhau về việc xác lập và thực hiện quyền, nghĩa vụ đối với tải sản của họ. Thỏa thuận này được thể hiện dưới dạng văn bản: Hôn ước, hợp đồng tiền hôn nhân hay thỏa thuận trước hôn nhân.
Hay nói khác đi, chế độ 11 tài sản thỏa thuận (hay còn gọi là chế độ tài sản ước định), là tập hợp các quy tắc do chính vợ, chồng xây dựng nên một cách hệ thống trên cơ sở sự cho phép của pháp luật đề thay thế cho chế độ tài sản luật định nhằm điều chỉnh quan hệ tài sản của vo chồng. Ché độ tài sản này được quy định như một điểm mới rất tiến bộ trong Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam năm 2014, ton tại song song cùng với chế độ tài sản theo luật định (được áp dụng khi vo chồng không xác lập chế độ tài sản theo thoả thuận). Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận gồm một số các nguyên tắc quy định quyên han của hai vợ chồng trên các tài sản chung, sự đóng góp tiền bạc của hai vợ chồng trong thời gian hôn nhân, các quyền lợi của người thứ ba giao dịch với họ và những quyền lợi của mỗi người vợ chồng khi hôn thú chấm dứt. Như vậy, dù hiểu theo quan điểm nao thì chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận là chế độ tài sản được xác lập theo sự thỏa thuận của vợ và chồng trước khi kết hôn, có hiệu lực ké từ thời điểm đăng ký kết hôn và được áp dụng trong suốt thời kỳ hôn nhân; có hiệu lực đến khi hôn nhân chấm dứt.
Trong trường hợp vợ, chồng thỏa thuận sửa đồi, bổ sung, thay đôi toàn bộ hoặc một phần nội dung chế độ tài sản theo thỏa thuận thì chế độ tài sản đã xác lập có thê chấm dứt hiệu lực ngay khi hôn nhân còn tổn tại. Từ những phân tích trên, có thé đưa ra khái niệm “Ché độ tài sản của vợ chong theo thỏa thuận là chế độ tài sản mà theo đó vợ chẳng được phép tự thỏa thuận về căn cứ xác lập tài sản, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên đối với tài sản cũng như phương thức phân chia tài sản thông qua một văn bản được lập trước khi kết hôn và có hiệu lực kề từ ngày kết hon”. Đặc điểm chế độ tài sản của vợ chông theo thỏa thuận Chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận là một trong hai chế độ tài sản của vợ chồng, nên nó mang đầy đủ các đặc điểm của chế độ tài sản của vợ chồng, như: Chủ thé của quan hệ sở hữu trong chế độ tài sản phải có quan hệ 12 hôn nhân hợp pháp, luôn hướng đến mục tiêu bảo đảm quyền lợi của gia đình trong đó có lợi ích cá nhân của vợ chồng: chế độ tài sản của vợ chồng chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân. Đồng thời, chế độ này có những đặc điểm riêng biệt so với chế độ tài sản theo luật định, cụ thé như sau: Thứ nhất, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận do hai bên vợ chồng tự do thỏa thuận một cách tự nguyện, bình đăng.
Chính nhờ đặc điểm này mà chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận mang lại sự ưu việt hơn trong việc đảm bảo quyền tự định đoạt tài sản theo ý chí của cá nhân vợ, chồng. Hau hết các nước thừa nhận chế độ tài sản vợ chồng theo thỏa thuận đều quy định vợ chồng tự nguyện thỏa thuận với nhau trước khi kết hôn. Theo đó, trước khi kết hôn hai bên cùng nhau thê hiện ý chí cá nhân đối với tài sản của mình. Thời điểm này chưa chịu sự ảnh hưởng của các mối quan hệ gia đình do đó quyên tự định đoạt tài sản của cá nhân sẽ được bảo đảm hơn.
Thứ hai, chễ độ tài sản của vợ chồng phải được thiết lập thông qua văn bản thỏa thuận do vợ chồng lập trước khi kết hôn, tuy nhiên, chế độ chỉ phát sinh hiệu lực kể từ ngày kết hôn.