Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ TẠI TÒA ÁN CẤP PHÚC THẨM 1. Khái niệm thủ tục phúc thẩm vụ án dân sự Trong xã hội có giai cấp, để duy trì trật tự xã hội, Nhà nước thông qua việc sử dụng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Hệ thống các cơ quan Nhà nước được thành lập ra để thi hành các nhiệm vụ cụ thể nhằm bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị. Tòa án là một cơ quan đặc biệt, thể hiện quyền lực của Nhà nước trong họat động tư pháp, là cơ quan nhân danh Nhà nước.
Qua hoạt động xét xử, ra các phán quyết để phân định quyền, nghĩa vụ cho các bên tham gia trong vụ kiện. Trong lĩnh vực dân sự, lợi ích như là tiền đề dẫn đến tranh chấp dân sự [56, tr 70], không có một cơ quan phán xử công minh chắc chắn không thể giải quyết dứt điểm các mâu thuẫn về lợi ích trong xã hội. Việc giải quyết của Tòa án qua hai giai đoạn từ sơ thẩm và phúc thẩm. Trong đó thủ tục phúc thẩm là thủ tục ảnh hưởng đến quyền, cũng như nghĩa vụ của các bên tham gia trong vụ kiện nhiều nhất.
Bởi quyết định phúc thẩm đồng nghĩa với việc quyền, nghĩa vụ của các đương sự đã được phân định rạch ròi, có ý nghĩa thực hiện trên thực tế. Bản án có hiệu lực là pháp luật và có ý nghĩa bắt buộc thực hiện đối với các đối tượng là các chủ thể có liên quan. Việc xét xử là một trong những phương thức thực hiện quyền lực Nhà nước đã tồn tại từ xa xưa, từ thời kỳ Nhà nước Ai Cập Babilon cổ đại đến thời kỳ La Mã Hy Lạp cổ đại rồi qua thời kỳ trung cổ Phục hưng. Dưới chế độ chiến hữu nô nệ và phong kiến, họat động xét xử cũng như họat động lập pháp và hành pháp đều tập trung vào giai cấp chủ nô và phong kiến mà đại 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com diện là nhà Vua, người có quyền lực cao nhất ở giai đoạn này, Tòa án chưa tổ chức thành một hệ thống và chưa trở thành lĩnh vực hoạt động độc lập trong bộ máy Nhà nước [30, tr 80].
Vấn đề bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người dân được coi là yêu cầu trung tâm của nội dung về Nhà nước pháp quyền [50, tr 216 - 217], quyền tư pháp là một trong ba nhánh quyền lực Nhà nước là quyền nhân danh Nhà nước để ra các phán quyết nhằm khôi phục trật tự pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, xã hội và công dân khi có sự vi phạm. Chủ thể của hoạt động xét xử chỉ có thể là Tòa án. Xét xử là việc Tòa án nhân danh Nhà nước xem xét đánh giá tính chất mức độ của hành vi vi phạm pháp luật, xác định bản chất quan hệ pháp luật tranh chấp giữa các bên và ra các quyết định xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các bên. Xét xử theo nghĩa khái quát là việc xem xét, và xử các vụ án, xét xử các tội phạm, việc xét xử của Tòa án [26, tr 1148].
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất hoạt động xét xử của Tòa án là hoạt động của các cơ quan và các cá nhân được căn cứ vào pháp luật để xem xét những vấn đề pháp lý và đưa ra những quyết định pháp lý có tính bắt buộc [58, tr 144]. Việc xét xử của Tòa án, tùy theo tính chất của thủ tục xét xử vụ án, mà có các thủ tục diễn ra tại các cấp xét xử đó là xét xử sơ thẩm được diễn ra tại Tòa án cấp sơ thẩm, xét xử phúc thẩm được diễn ra tại Toà án cấp phúc thẩm. Mỗi thủ tục xét xử có một đặc thù mang tính chất pháp lý khác nhau. Phúc thẩm về mặt ngôn ngữ học là việc Tòa án cấp trên xét xử lại một vụ án do cấp dưới đã xét xử sơ thẩm mà có chống án [28, tr 790].
Theo Từ điển thuật ngữ luật học về dân sự, hôn nhân và gia đình và tố tụng dân sự của trường Đại học Luật Hà Nội thì phúc thẩm là việc Tòa án cấp 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên trực tiếp xét lại những bản án hoặc quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc bị kháng nghị nhằm kiểm tra lại tính hợp pháp tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm, sửa những sai lầm và vi phạm của Tòa án sơ thẩm bảo đảm việc áp dụng thống nhất pháp luật [27, tr 378]. Theo Điều 242 Bộ luật tố tụng dân sự, phúc thẩm : ‘‘là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án mà bản án quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị". Như vậy, hiểu theo cách hiểu của ngôn ngữ hay quy định của luật thực định thì khái niệm phúc thẩm cũng bao gồm ba yếu tố hợp thành: - Là việc của Tòa án cấp trên trực tiếp; - Xét lại bản án (hoặc xét xử lại vụ án); - Bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Từ khái niệm phúc thẩm trên có thể đưa ra khái niệm thủ tục phúc thẩm, theo đó, thủ tục phúc thẩm là thủ tục xem xét lại tính hợp pháp tính, có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm khi có kháng cáo, kháng nghị.
Thủ tục giải quyết vụ án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng độc lập, có những tính chất, đối tượng xét xử, có vai trò, ý nghĩa, mục đích riêng, không giống với bất cứ thủ tục xét xử ở giai đoạn nào (sơ thẩm hay giai đoạn xét lại bản án giám đốc thẩm, tái thẩm). Khái niệm phúc thẩm dân sự là một khái niệm phức tạp bao gồm nhiều nội dung. Để tìm hiểu được đầy đủ, toàn diện khái niệm phúc thẩm cần thiết phải làm rõ các nội dung tiếp sau: 1. Tính chất của thủ tục xét xử phúc thẩm vụ án dân sự 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Tính chất là những nội dung quyết định đến các nội dung của các vấn đề khác theo từ điển Tiếng Việt: tính chất là đặc điểm riêng của sự vật, hiện tượng làm phân biệt nó với những sự vật, hiện tượng khác [28, tr 999].
Tính chất của xét xử phúc thẩm là việc cần phải làm rõ đầu tiên bởi nó quyết định đến các vấn đề khác của việc xét xử phúc thẩm như phạm vi xét xử phúc thẩm, vai trò, ý nghĩa của việc xét xử phúc thẩm. Làm rõ được tính chất của việc xét xử từ đó sẽ làm cơ sở để xây dựng lên các cơ chế như xác định cụ thể căn cứ phát sinh thủ tục phúc thẩm, đối tượng của xét xử phúc thẩm, phạm vi xét xử phúc thẩm và quyền hạn của Tòa án cấp phúc thẩm. Thủ tục phúc thẩm dân sự là một giai đoạn tố tụng nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc xét xử hai cấp. Ở giai đoạn này, các đương sự người đại diện của đương sự tổ chức xã hội khởi kiện Viện kiểm sát nhân dân có quyền kháng cáo, kháng nghị bản án, quyết định dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xem xét lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
Quyền kháng cáo của đương sự là biểu hiện cụ thể quyền dân chủ công dân được pháp luật bảo vệ. Do đó, dù bản án quyết định dân sự sơ thẩm được Tòa án coi là xét xử đúng, nhưng nếu có kháng cáo, kháng nghị thì Tòa án cấp trên vẫn phải tiến hành thủ tục phúc thẩm dân sự để kiểm tra lại tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án, quyết định sơ thẩm. Từ trước đến nay hai cấp xét xử đã được pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam coi là nguyên tắc cơ bản. Trong các nguyên tắc hoạt động của Tòa án.
Từ ngay trong những văn bản đầu tiên của Nhà nước ta về tố tụng dân sự. Trong Sắc lệnh số 51/SL ngày 17/4/1946 quy định về sự phân công giữa các nhân viên trong Toà án đã quy định Toà án đệ nhị cấp có thẩm quyền phúc thẩm đối với các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm. Toà án Thượng thẩm có quyền chung thẩm các bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án Đệ nhị cấp. Tại Thông tư số 1459/HCTP của Bộ Tư pháp ngày 19/8/1955 nhấn 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạnh: ‘‘Nguyên tắc hai cấp xét xử là một trong những nguyên tắc tố tụng của nhân dân cần phải được bảo đảm".
Điều 9 Luật Tòa án nhân dân năm 1960 quy định "Tòa án nhân dân thực hành chế độ 2 cấp xét xử". Tại Công văn số 614/DS ngày 24/4/1963 của Tòa án nhân dân tối cao về việc vi phạm thủ tục tố tụng có hướng dẫn "Một trong những nguyên tắc cơ bản của Tòa án là 2 cấp xét xử, đương sự có quyền chống bản án của Tòa án nhân dân xử sơ thẩm lên Tòa án nhân dân trên một cấp, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp và trên một cấp có quyền kháng nghị bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân’’ (Mục III). Thông tư số 19/TATC ngày 02/10/1974 quy định rõ về chức năng của Tòa án cấp phúc thẩm là: "xét xử lại những vụ án đã được xét xử theo trình tự sơ thẩm khi bản án chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị’’. Điều 17 Bộ luật tố tụng dân sự 2004 quy định: "1.
Tòa án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của Bộ luật này. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do Bộ luật này quy định thì có hiệu lực pháp luật; đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị thì vụ án phải được xét xử phúc thẩm. Bản án, quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật".
2- Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật mà phát hiện có vi phạm pháp luật hoặc có tình tiết mới thì được xem xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm theo quy định của Bộ luật này’’. Xuất phát từ nguyên tắc hai cấp xét xử nên tính chất của phúc thẩm dân sự không có gì khác, đó chính là việc xét xử lại vụ án dân sự mà bản án, quyết định dân sự sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị.