Chương 1 TỔNG QUAN VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về các công trình đã công bố vấn đề nghiên cứu 1. Lược sử nghiên cứu trên thế giới 1. Những nghiên cứu b o tồn và phát triển nguồn gen thực vật rừng Trải qua nhiều thế kỷ, con người vẫn luôn coi trọng cây c như à một nguồn thuốc chủ yếu để phòng và chữa bệnh.
Theo WHO đến năm 1985, trên thế giới đã c khoảng 20.000 loài thực vật được dùng trực tiếp để làm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất tự nhiên để làm thuốc. Trong đ , vùng nhiệt đới ch u Á ước tính có khoảng 6.500 loài thực vật c hoa được dùng làm thuốc.000 loài, Trung Quốc 5. Bên cạnh việc sử dụng cây thuốc ở dạng cổ truyền (cao, thuốc ng m rượu, thuốc sắc,…); thì nhiều năm nay người ta đã chế được ra nhiều loại thuốc hiện đại có nguồn gốc từ tự nhiên. Cho đến nay chưa c con số chính xác thống kê về tổng số ượng thực vật được sử dụng là bao nhiêu, chỉ đoán à rất lớn.
Theo thống kê của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên (WWF) trên thế giới có khoảng 250.000 loài thực vật bậc cao thì c đến 35.000 oài được sử dụng vào mục đ ch chữa bệnh. Trong đ Trung Quốc có trên 10.000 loài, Ấn Độ có khoảng 7.000 loài, Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng 2.000 loài, Hàn Quốc có khoảng 1.000 loài có thể sử dụng được trong y học truyền thống. Ch u Úc được mệnh danh là cái nôi của nền văn minh cổ xưa nhất trên thế giới. Người ta cho rằng các thổ d n ch u Úc đã định cư ở đ y từ hơn 60000 năm về trước và hình thành nên những kiến thức thực tiễn về các loài cây thuốc bản xứ.
Nhiều loài cây trong số này như ạch đàn xanh (Eucalyptus globulus) duy nhất có ở châu Úc, vốn được sử dụng rất hữu hiệu trong việc chữa bệnh. Tuy nhiên, phần lớn các kiến thức về dược thảo của thổ d n đã ị mất đi khi người d n ch u Âu đến định cư. Ngày nay, đa phần các dược thảo 3 ở ch u Úc được bắt nguồn từ phương T y, Ấn Độ, Trung Quốc và các nước vùng ven Thái ình ương. ược thảo châu Âu rất đa dạng và phần lớn dựa trên nền tảng của y học truyền thống cổ điển.
Người đầu tiên phải kể đến là Galen (131-200SCN), một thầy thuốc của Hoàng đế La Mã Marcus Aurelius, có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của các vị thuốc được bào chế từ thảo mộc. Ông đã viết hàng trăm cuốn sách và được áp dụng trong ngành Y ch u Âu hơn 1500 năm. Ở thế kỷ I SCN, một thầy thuốc Hy Lạp tên ioscorides đã viết một cuốn sách dược thảo có tên “De ma e al Med a”. Cuốn sách này bao gồm 600 loại thảo mộc gây ảnh hưởng mạnh mẽ tới y học phương T y và à sách tham khảo chính được dùng ở ch u Âu cho đến thế kỷ XVIII.
Cuốn sách c n được dịch ra nhiều ngôn ngữ: tiếng Anh cổ, tiếng a Tư, tiếng Hebrew. Vào thời trung cổ, học thuyết “Dấu hiệu” khẳng định có một sự kết nối giữa vẻ bề ngoài của một loài cây – “dấu hiệu của thần thánh” – và công dụng y học của chúng. C ng trong thời gian này, khoảng thế kỷ XI SCN, tại Scotland các thầy tu đã sử dụng cây thuốc Phiện (Papaver omnirierum) và cây Cần sa (Canabis sativa) để làm thuốc giảm đau và thuốc gây mê. Sau này, Nicholas Culpeper (1616-1654) đã kế thừa một số kiến thức từ Dioscorides, Paracelus và kinh nghiệm chữa bệnh của thầy thuốc địa phương, ông đã cho xuất bản cuốn thảo dược “ e En l s n P ys an”.
Đ y à cuốn bán chạy nhất và được tái bản nhiều lần. Châu Mỹ La Tinh nơi c chứa 1/3 số loài thực vật trên thế giới c ng c truyền thống sử dụng cây c làm thuốc, đặc biệt là ở người dân bản địa. Schu e đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc được sử dụng ở vùng Amazon thuộc Colombia. Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ đại ghi chép trong thời gian khoảng 3.600 năm trước đ y với 800 bài thuốc và trên 700 cây thuốc trong đ c c y Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu.
Người Trung 4 Quốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo 365 vị và loài cây thuốc (khoảng 5. Nền y học cổ truyền của Trung Quốc và Ấn Độ đều ghi nhận lịch sử sử dụng các cây c làm thuốc c cách đ y 3. Vào đầu thế kỷ thứ II ở Trung Quốc, người ta đã iết dùng các lá của cây chè (Thea siamensis L.) đặc để rửa các vết thương và tắm ghẻ. Thần Nông à người đầu sưu tầm, ghi chép nên 365 vị thuốc Đông Y trong cuốn sách "Mục lục thuốc thảo mộc" từ hàng ngàn năm trước đ y.
Từ thời cổ xưa các chiến inh La Mã đã dùng c y Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa các vết thương cho chóng lành sẹo mà ngày nay đã được các nhà khoa học trong và ngoài nước chứng minh. Kinh nghiệm của người cổ Hy Lạp và La Mã dùng v quả Óc chó (Juglans regia L.) dùng để chữa loét vết thương u ngày. Trong chương trình điều tra cơ ản nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Đông Nam Á, Perry đã nghiên cứu hơn 1.000 tài iệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và được các nhà khoa học kiểm chứng và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông và Đông Nam Á "Medicinal Plants of East and South east Asia" 1985. Theo Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thế Giới (IUNC) cho biết trong tổng số 43.000 loài thực vật mà cơ quan này c thông tin, hiện tại có khoảng 30.000 oài được coi là tuyệt chủng ở mức độ khác nhau.
Nhiều quốc gia trên Thế giới đã c nhiều chính sách cụ thể để vừa bảo tồn, vừa khai thác hợp lý nguồn gen cây thuốc. Đáng chú ở Nam Ninh (Trung Quốc) có vườn thuốc rộng 250 ha, đã thu thập và trồng được 2.500 loài cây thuốc, vườn phát triển cây thuốc ở Bắc Kinh rộng hơn 70 ha đã trồng được hơn 1.000 oài cây thuốc. Hiện đại hóa nền y học cổ truyền được nhiều Tổ chức; Chính phủ quan tâm nhằm tạo ra những dạng bào chế mới; thuốc mới đáp ứng nhu cầu làm thuốc dự phòng và chữa bệnh. Cho tới nay c hơn 30.000 hoạt chất được tách chiết từ nguồn thực vật, rất nhiều hoạt chất có giá trị cao.
Nhu cầu về hoạt 5 chất có nguồn gốc thực vật ngày càng tăng, trong khi đ nguồn thực vật cung cấp có hạn, phụ thuộc vào nhiều vấn đề: Năng suất, điều kiện khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, điều kiện thổ nhưỡng,… Ch nh vì vậy, nuôi cấy sinh khối tế bào thực vật được nhiều quốc gia quan t m, đầu tư phát triển… Những sản phẩm của sinh khối tế bào thực vật đã được thương mại hóa, có giá trị cao trong nhiều ĩnh vực: dược phẩm (thuốc điều trị các bệnh đái đường, bệnh tim mạch, bệnh gan mật, thuốc bổ dưỡng,. các thực phẩm bổ dưỡng, mỹ phẩm, chất phụ gia thực phẩm (chất màu, hương iệu, gia vị, các chất dùng trong chế biến thực phẩm), các chất dùng trong nông nghiệp,… Các hoạt động mưu cầu cuộc sống của con người ngày nay đã và đang gây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới. Nhiều loài thuốc quý hiếm bị khai thác bừa ãi nên đang đứng trước nguy cơ ị tuyệt chủng hoặc đã ị tuyệt chủng. Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988) trong v ng hơn một trăm năm trở lại đ y, c khoảng 1.000 loài thực vật đã ị tuyệt chủng, khoảng 60.000 loài bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại bị đe dọa vào thế kỷ sau.
Trong số những loài thực vật bị đe dọa có một tỷ lệ không nh của thực vật có khả năng àm thuốc, hoặc khả năng này con người chưa phát hiện mà đã ị tuyệt chủng. Theo Tổ chức Ngân hàng Thế Giới (WB), tri thức truyền thống về y học ở Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La Tinh rất dễ bị đe dọa. Tri thức này đang ị mất với tốc độ nhanh hơn các di sản trí tuệ bản địa khác. Trên thế giới có khoảng 1.000 loài cây thuốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng.
Trong số đ c khoảng 120 loài ở Ấn Độ, 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroc, 61 loài ở Thái Lan và 35 loài ở ăng adet. Trước tình hình suy thoái các nguồn gen động thực vật nói chung, trên thế giới đã quan t m đến vấn đề ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ các nguồn gen quý hiếm từ rất sớm. Công ước CITES (ngày 30 tháng 03 năm 1973) tại Washington với mục tiêu về buôn bán quốc tế các oài động thực vật hoang dã nguy cấp. Đ y ch nh à công cụ hỗ trợ các quốc gia ngăn chặn buôn bán quốc 6 tế bất hợp pháp không bền vững động thực vật hoang dã, nâng cao nhận thức về bảo tồn loài.
Tại Hội nghị quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 - 27 tháng 03 năm 1983 tại Chiềng Mai - Thái Lan, hàng loạt các công trình nghiên cứu về t nh đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc đã được đặt ra. Công ước đa dạng sinh học của hội nghị thượng đỉnh về môi trường tại Rio de Janiero năm 1992 c các mục tiêu về bảo tồn đa dạng sinh học, sử dụng các thành phần của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng lợi ch thu được từ việc sử dụng nguồn gen. Công ước nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo tồn trong các điều kiện tự nhiên với các hoạt động hỗ trợ cho bảo tồn các khu tự nhiên, giải quyết các nhu cầu xác định và giám sát các thành phần đa dạng sinh học quan trọng. Công ước là chìa khóa quan trọng để ngăn chặn sự tuyệt chủng của các oài động thực vật hoang dã nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng trong thế kỷ 21.
Cùng với các nghiên cứu về sử dụng cây thuốc, một vấn đề cấp bách khác được đề ra đ à việc bảo tồn nguồn tài nguyên cây thuốc, cùng với những kinh nghiệm sử dụng cây thuốc của các dân tộc trên thế giới. Tại hội nghị Quốc tế về Bảo tồn cây thuốc, tổ chức ở Chiềng Mai( Thái Lan) năm 1993, một lần nữa các nhà khoa học đã khẳng định tầm quan trọng và vai trò to lớn của cây thuốc trong sự nghiệp chăm s c sức kh e cộng đồng.