Chương 1 CƠ CỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của KCN 1. Khái niệm KCN Thuật ngữ KCN xuất hiện từ cuối thế kỷ XIX - khi các KCN bắt đầu đƣợc hình thành và phát triển. Có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về KCN.
Theo quan điểm của Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hiệp quốc (UNIDO) trong tài liệu KCX tại các nƣớc đang phát triển (Export processing Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 thì KCN là khu vực tƣơng đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tƣ vào các ngành công nghiệp hƣớng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tƣ và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nƣớc chủ nhà. Theo quan điểm của Hiệp hội Thế giới về KCX (World Export Processing Zone Association - WEPZA), KCX là tất cả khu vực đƣợc Chính phủ các nƣớc cho phép thành lập và hoạt động nhƣ Cảng tự do, Khu mậu dịch tự do, KCN tự do hoặc bất kỳ khu vực ngoại thƣơng hoặc khu vực khác đƣợc tổ chức này công nhận. Cũng từ quan điểm này, do nhu cầu phát triển của các mối quan hệ thƣơng mại và đầu tƣ quốc tế ngày càng đƣợc mở rộng, xuất phát từ yêu cầu bức thiết của quá trình công nghiệp hóa hƣớng về xuất khẩu của các nƣớc đang phát triển, khái niệm này đã đƣợc bổ sung bằng những quan niệm mới nhƣ: Khu kinh tế mở, Thành phố mở, Đặc khu kinh tế. Các nƣớc nhƣ Thái Lan, Philippin quan niệm KCN nhƣ một thành phố công nghiệp, vì thực tế KCN là một cộng đồng tự túc và độc lập.
Ngoài việc cung cấp cơ sở hạ tầng, các tiện nghi, tiện ích công cộng hoàn chỉnh và xử lý chất thải, KCN còn 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com bao gồm khu thƣơng mại, dịch vụ ngân hàng, trƣờng học, bệnh viện, các khu vui chơi giải trí, nhà ở cho công nhân.Các KCN ở Indonesia và Thái Lan thƣờng gồm ba bộ phận chủ yếu: khu sản xuất hàng tiêu thụ nội địa, khu sản xuất hàng xuất khẩu và khu thƣơng mại và dịch vụ [18, tr. Tuy nhiên, cũng có những quan niệm cho rằng KCN là một khu vực phụ (Subregion), không nhất thiết phải có sự ngăn cách, biệt lập. Ở Việt Nam, quy chế KCN (Ban hành kèm theo Nghị định số 192-CP ngày 28/12/1994 của Chính phủ) đã đƣa ra quan niệm: "KCN quy định trong quy chế này là KCN tập trung do Chính phủ quyết định thành lập, có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất công nghiệp và thực hiện các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp, không có dân cƣ sống" [3, tr. Trong mục 1, điều 2 tại Nghị định 36-CP ngày 24/4/1997 của Chính phủ về quy chế KCN, KCX và khu công nghệ cao: “KCN là khu tập trung các DN KCN chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập, trong KCN có thể có DN chế xuất” [4, tr.
Nhìn chung, các tiêu chí để hình thành một KCN bao gồm: - KCN phải do Chính phủ hoặc do Thủ tƣớng Chính phủ quyết định thành lập. - KCN là nơi tập trung các DN có đủ cơ sở pháp lý, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. - KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, không có dân cƣ sinh sống. - Trong KCN có thể có DN chế xuất, đó là các DN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thực hiện các dịch vụ chuyên cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trên cơ sở 4 tiêu chí trên, tác giả luận văn thống nhất với khái niệm về KCN đã đƣợc nêu ra Theo luật đầu tƣ đƣợc Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi hành từ 01/7/2006: - “KCN là khu sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ” [21]. - “Khu chế xuất là KCN chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ” [21]. - “Khu công nghệ cao là khu chuyên nghiên cứu phát triển, ứng dụng công nghệ cao, ƣơm tạo DN công nghệ cao, đào tạo nhân lực công nghệ cao, sản xuất và kinh doanh sản phẩm công nghệ cao, có ranh giới địa lý xác định, đƣợc thành lập theo quy định của Chính phủ” [21]. Với khái niệm nhƣ vậy, KCN của Việt Nam đƣợc hiểu là KCN tập trung, không có dân cƣ sinh sống nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề hạ tầng và ô nhiễm môi trƣờng, có phân biệt với các vùng công nghiệp (bao gồm nhiều KCN), với các đặc khu kinh tế (có bộ máy quản lý hành chính độc lập).
Theo quan niệm của Việt Nam, các KCX (chuyên sản xuất hàng hoá xuất khẩu và dịch vụ cho sản xuất hàng hoá xuất khẩu), khu công nghệ cao (tập trung các DN có công nghệ cao hoặc DN dịch vụ cho các DN có công nghệ cao) chỉ là hình thái đặc thù của KCN tập trung (dƣới đây gọi chung là KCN). Đặc điểm đặc trƣng của KCN Theo quan niệm của Việt Nam, KCN có một số đặc điểm đặc trƣng chủ yếu sau: - Tập trung tƣơng đối nhiều xí nghiệp trong một khu vực có ranh giới quy định rõ ràng, cùng chung sử dụng kết cấu hạ tầng sản xuất. Vì vậy, các xí nghiệp này có điều kiện thuận lợi để tiết kiệm chi phí sản xuất, nhờ vậy hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm của công ty mình. - Các xí nghiệp trong KCN thƣờng đƣợc hƣởng một quy chế riêng của Nhà 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nƣớc và địa phƣơng sở tại.
Các quy chế này thể hiện sự quan tâm, ƣu đãi, có chính sách kinh tế đặc thù, tạo môi trƣờng đầu tƣ thuận lợi hấp dẫn cho phép các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài sử dụng phạm vi đất đai nhất định trong KCN để tạo lập thành các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ƣu đãi về thủ tục xin phép và miễn hoặc giảm phí thuê đất, tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp này phát triển. - KCN có Ban quản lý chung thống nhất, thực hiện quy chế quản lý thích hợp, tạo điều kiện thuận lợi và hiệu suất tối đa cho các xí nghiệp công nghiệp và các DN hoạt động. - KCN thƣờng có giới hạn địa lý hẹp, khoảng vài chục đến vài trăm ha và có thể đƣợc ngăn cách với xung quanh bởi hàng rào cứng. Không có dân cƣ sinh sống trong KCN.
- Hoạt động chính trong KCN là hoạt động sản xuất công nghiệp, sản phẩm của các nhà máy, DN trong KCN chủ yếu giành cho xuất khẩu, hƣớng ra thị trƣờng thế giới. Tuy nhiên, để tăng thu ngoại tệ bằng cách giảm tối đa việc nhập khẩu các loại máy móc, thiết bị và hàng hoá tiêu dùng, các nhà máy trong KCN cũng rất quan tâm đến việc sản xuất hàng hoá có chất lƣợng cao nhằm thay thế hàng nhập khẩu. Tuy nhiên, có thể coi khái niệm KCN mà chúng ta sử dụng là khái niệm hẹp bởi chúng ta chỉ quan tâm chủ yếu đến phần diện tích dành cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng để cho thuê, còn việc xây dựng các công trình phúc lợi xã hội không nằm trong phạm vi quy định. Quan niệm này dẫn đến một thực tế là khi xây dựng KCN, ngƣời ta không quan tâm đến tính đồng bộ của nó theo nghĩa rộng, dẫn đến yếu tố bất cập, ảnh hƣởng lớn tới hiệu quả KT - XH của KCN.
Vai trò của KCN đối với phát triển kinh tế - xã hội 1. Thu hút các nguồn vốn đầu tư Thực tế trong những năm qua ở nƣớc ta, KCN đã đóng vai trò tích cực vào việc thu hút vốn đầu tƣ, đặc biệt là FDI. Số dự án đầu tƣ (cả trong nƣớc và ngoài 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nƣớc) vào các KCN chiếm tỷ trọng khá lớn. Sự gia tăng vốn đầu tƣ vào các KCN góp phần quan trọng vào việc tăng tổng vốn đầu tƣ của toàn xã hội và sự phát triển của các DN này còn tạo sức lan toả tới các DN ngoài KCN.
Tính đến hết năm 2009, các KCN của Việt Nam đã thu hút đƣợc trên 3.600 dự án đầu tƣ nƣớc ngoài với tổng vốn đầu tƣ đăng ký đạt 46,9 tỷ USD (chiếm 30% về số dự án và 25% về vốn đầu tƣ so với cả nƣớc) và 3.200 dự án đầu tƣ trong nƣớc với tổng vốn đầu tƣ đăng ký 254. Trong điều kiện nền kinh tế tích lũy nội bộ còn thấp thì thu hút đƣợc nhiều vốn đầu tƣ nƣớc ngoài là rất quan trọng. KCN là một giải pháp hữu hiệu nhằm huy động vốn của các DN có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài. Thực tế từ khi xây dựng KCN cho đến nay, số dự án và tổng số vốn đầu tƣ nƣớc ngoài vào KCN không ngừng gia tăng và chiếm tỉ lệ lớn trong tổng số vốn FDI đầu tƣ trên cả nƣớc.
Bên cạnh việc tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tƣ nƣớc ngoài, việc tập trung các DN công nghiệp vào một khu vực địa lý, hình thành KCN tập trung là một vấn đề không kém phần quan trọng, bởi trong KCN tập trung, các DN dùng chung các công trình hạ tầng nên giảm đƣợc chi phí trên một đơn vị diện tích và đơn vị sản phẩm, thực hiện phát triển công nghiệp theo một quy hoạch thống nhất, kết hợp giữa quy hoạch phát triển ngành với quy hoạch lãnh thổ. Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá KCN phát triển kéo theo sự phát triển mạnh của các ngành công nghiệp, những vùng đất sản xuất nông nghiệp có hiệu quả thấp sẽ đƣợc chuyển sang xây dựng KCN để sản xuất công nghiệp có hiệu quả cao hơn nhiều. Sự phát triển của các KCN góp phần to lớn vào sự hình thành các khu đô thị mới với hàng loạt các ngành dịch vụ phát triển nhƣ thông tin liên lạc, ngân hàng, bảo hiểm, vận tải và thƣơng mại.