Chương 1 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com THỜI HIỆU TRONG PHÁP LUẬT DÂN SỰ 1. NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỜI HIỆU 1. Khái niệm thời hiệu trong pháp luật dân sự Trong giao dịch dân sự thông thường, các chủ thể tham gia có quyền thỏa thuận những nội dung cơ bản về quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự, biện pháp, cách thức thực hiện các quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự. Các chủ thể có quyền tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận.
Theo nguyên tắc quan trọng này, các chủ thể trong QHPLDS có quyền tự do cam kết, thỏa thuận, kể cả những trường hợp pháp luật không có quy định bao gồm cả thời hạn, nếu không trái pháp luật, đạo đức xã hội; không trái với những nguyên tắc cơ bản của PLDS. Song để bảo đảm sự ổn định của các QHPLDS trong đời sống xã hội là một trong những mục tiêu của PLDS nên phần thứ nhất của BLDS quy định về những quy định chung gồm 171 điều trong đó chương VIII quy định chế định thời hiệu (từ Đ.163 BLDS quy định thời hiệu được hiểu là một khoảng thời hạn do PLDS quy định trước đối với các loại giao dịch dân sự cụ thể. Khi thời hiệu kết thúc sẽ phát sinh những quyền dân sự nhất định hoặc bị mất quyền khởi kiện, mất quyền yêu cầu thực hiện nghĩa vụ khi người có nghĩa vụ đã được miễn trừ thực hiện nghĩa vụ theo thời hiệu. Không những chỉ thời hiệu mà nội dung của thời hiệu và các loại thời hiệu đều do PLDS quy định, các chủ thể không có quyền thỏa thuận về thời hiệu.
Vì các chủ thể tham gia QHPLDS không có quyền thỏa thuận nhằm kéo dài hoặc rút ngắn thời hạn để được coi là thời hiệu, cho nên thời hiệu là căn cứ pháp lý do pháp luật quy định nhằm làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định, không phụ thuộc vào ý chí của các chủ thể tham gia giao dịch dân sự đó.2 Ý nghĩa của thời hiệu 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thứ nhất: Thời hiệu được PLDS quy định có một vai trò quan trọng trong việc ổn định các quan hệ dân sự, nhất là các quan hệ tài sản trong đời sống xã hội. Nếu PLDS không có các quy định về thời hiệu để ổn định các quan hệ tài sản trong giao lưu dân sự, mỗi chủ thể tham gia vào giao dịch dân sự sẽ không yên tâm và tin tưởng vào quan hệ dân sự mà họ đã xác lập, thực hiện. Trong đời sống xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ tài sản cũng phát triển theo, giá trị tài sản thường có biến động lớn, nhất là tài sản có giá trị lớn như nhà đất, ví dụ như từ khi các bên tham gia giao kết hợp đồng cho đến khi thực hiện hợp đồng, do tác động của thị trường đã có sự chênh lệch về giá cả so với giá mà các bên đã thoả thuận. Do đó, thời hiệu sẽ ràng buộc các bên trong thời hạn để đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ.
Thứ hai: Việc pháp luật ấn định ra một thời hạn tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong giải quyết tranh chấp. Nếu một giao dịch dân sự đã xác lập, thực hiện trong một khoảng thời hạn đã quá lâu mà có tranh chấp, thì quá trình chứng minh của đương sự sẽ rất khó khăn, phức tạp. Khi giải quyết tranh chấp dân sự, Tòa án, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng gặp khó khăn khi phải tiến hành điều tra, xác minh, thu thập chứng cứ cần thiết để xác định sự thật khách quan của vụ việc. Vì vậy, nếu thời hạn đã quá lâu, thì quá trình điều tra của Tòa án hoặc những cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong việc thu thập chứng cứ cũng khó có cơ sở để đảm bảo tính chính xác và tin cậy.
Các loại thời hiệu Trên cơ sở quy định về thời hiệu của Đ.164 BLDS đã phân chia thời hiệu trong PLDS làm ba loại: Thời hiệu hưởng quyền dân sự, thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự và thời hiệu khởi kiện. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thời hiệu hưởng quyền dân sự: Là thời hạn mà kết thúc thời hạn đó thì chủ thể được hưởng quyền dân sự. Theo quy định tại K.164 BLDS thì thời hiệu hưởng quyền dân sự là một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền dân sự cho một chủ thể, không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể. Điều này khác với việc xác lập quyền dân sự do các chủ thể thỏa thuận khi xác lập giao dịch dân sự.
Việc hưởng quyền dân sự theo thời hiệu chỉ được thực hiện trong thời hạn và trong những trường hợp do PLDS quy định. Thông thường, một chủ thể được hưởng quyền dân sự theo thời hiệu phải có những điều kiện nhất định như: Thời hạn hoặc các điều kiện khác theo quy định của PLDS.255 BLDS quy định thời hiệu làm phát sinh quyền sở hữu tài sản đối với người chiếm hữu không có căn cứ pháp luật nhưng ngay tình, phải thỏa mãn điều kiện thứ nhất về thời hạn là mười năm đối với động sản, ba mươi năm đối với bất động sản. Đồng thời, phải có các điều kiện khác như: Việc chiếm hữu đó phải ngay tình, liên tục, công khai. Pháp luật dự liệu các trường hợp được hưởng quyền dân sự theo thời hiệu khác nhau có những điều kiện khác nhau ví dụ như các quy định tại các điều từ Đ.
Những chủ thể hưởng quyền dân sự theo thời hiệu trong các trường hợp này phải có đủ những điều kiện nhất định được quy định đối với từng quan hệ dân sự cụ thể đó.247 quy định việc xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu trong thời hạn một năm mà không xác định được ai là chủ sở hữu của động sản, thì sau khi thông báo công khai mà vẫn không xác định được ai là chủ sở hữu, thì động sản đó thuộc sở hữu của người phát hiện, nếu vật là bất động sản thì sau năm năm kể từ ngày thông báo công khai, thì bất động sản đó thuộc sở hữu của Nhà nước, người phát hiện được hưởng một khoản tiền theo quy định của pháp luật.249 BLDS quy định thời hạn xác lập quyền sở hữu đối với vật do người khác đánh rơi, bỏ quên là một năm. Nếu hết thời hạn này 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mà không xác định được ai là chủ sở hữu của tài sản thì vật đó thuộc sở hữu của người nhặt được hoặc thuộc sở hữu của Nhà nước, người phát hiện được hưởng một khoản tiền theo quy định của pháp luật.166 BLDS quy định thời hiệu hưởng quyền dân sự không được áp dụng đối với trường hợp chiếm hữu tài sản thuộc sở hữu toàn dân không có căn cứ pháp luật. Quy định này nhằm ngăn chặn việc sử dụng tài sản toàn dân vào mục đích cá nhân không đúng quy định của pháp luật, biển thủ tài sản Xã hội chủ nghĩa. Thời hiệu hưởng quyền dân sự cũng không được áp dụng trong các trường hợp việc hưởng các quyền nhân thân của một chủ thể không gắn hoặc không liên quan với tài sản, bởi vì quyền nhân thân của mỗi cá nhân vĩnh viễn gắn liền với cá nhân đó và không bị thay đổi, khi cá nhân chết thì quyền nhân thân của cá nhân cũng bị mất theo, cho nên không thể áp dụng thời hiệu đối với quyền nhân thân phi tài sản.
Song để được hưởng quyền dân sự theo thời hiệu thì việc chiếm hữu phải kéo dài liên tục từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc (K.167 BLDS), nếu có sự kiện làm gián đoạn thì thời hiệu đó phải được tính lại từ đầu sau khi sự kiện làm gián đoạn thời hiệu chấm dứt. Thời hiệu hưởng quyền dân sự bị gián đoạn khi có một trong những sự kiện được quy định tại K.167 BLDS cụ thể là: Có sự giải quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đối với quyền, nghĩa vụ đang áp dụng thời hiệu; quyền và nghĩa vụ dân sự đang được áp dụng thời hiệu mà bị người có quyền, nghĩa vụ liên quan tranh chấp. Khi có một trong các căn cứ nêu ở trên phát sinh thì thời hiệu hưởng quyền dân sự phải bắt đầu lại từ đầu. Quy định này được hiểu là khi thời hiệu hưởng quyền dân sự đang tiếp diễn liên tục mà có đơn khởi kiện của một cá nhân nào đó yêu cầu giải quyết tài sản đang áp dụng thời hiệu hoặc có sự giải 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quyết của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thì khi những trở ngại đó kết thúc thời hiệu hưởng quyền dân sự lại được tính lại từ đầu.
Trong trường hợp việc hưởng quyền dân sự được chuyển giao hợp pháp cho người khác, ví dụ việc chuyển giao do thừa kế, thì thời hiệu hưởng quyền dân sự được tính liên tục, nên không phát sinh những căn cứ được quy định ở K. Tóm lại: Thời hiệu hưởng quyền dân sự là thời hạn do pháp luật quy định mà khi kết thúc thời hạn đó chủ thể “có” hoặc “mất” các quyền. Nếu một người được hưởng lợi do việc hưởng quyền dân sự theo thời hiệu thì người khác sẽ mất quyền sở hữu tài sản đó khi thời hiệu đã hết. Quy định này nhằm làm ổn định xã hội khi có những tài sản vắng chủ đã lâu ngày, bị người khác ngay tình, công khai chiếm giữ, mà chủ sở hữu biết hoặc không biết nhưng không có ý kiến gì, thì hết thời hạn cho phép 10 năm đối với động sản, 30 năm đối với bất động sản, thì tài sản đó thuộc sở hữu của người đang chiếm giữ.
Quy định như thế phù hợp với thực trạng xã hội nước ta, đặc biệt đối với bất động sản sau chiến tranh, nhiều người bỏ làng xóm, tài sản ra đi. Có thể 40-50 năm sau mới quay trở lại, đòi tài sản đã bị người khác chiếm giữ, còn người chiếm giữ đang sử dụng và đã tạo lập đời sống ổn định. Do đó, chế định này bảo đảm cho việc giữ ổn định đời sống xã hội. - Thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự: Là thời hạn mà khi kết thúc thời hạn đó thì người có nghĩa vụ được miễn thực hiện nghĩa vụ đó.
Theo quy định tại K.164 BLDS thì thời hiệu miễn trừ nghĩa vụ dân sự cũng là một sự kiện pháp lý cho phép một chủ thể được miễn trừ nghĩa vụ dân sự. Dù rằng trong thực tế chủ thể đó chưa thực hiện nghĩa vụ đã cam kết hoặc chưa thực hiện nghĩa vụ do pháp luật quy định.