mở đầu cho một chặng đường mới của đất nước trên tất cả mọi phương diện. Đội ngũ nhà thơ trẻ sau 1975 đi từ hai luồng chính: Một luồng là những người mặc áo lính hoặc vừa từ chiến trường trở về sau chiến tranh, những người từ lực lượng thanh niên xung phong trở về đang học ở các trường đại học hay chuyển ngành về công tác ở các cơ quan, xí nghiệp ở trung ương và địa phương. Đó là những nhà thơ: Trần Quang Qúy, Nguyễn Quang Thiều, Trần Anh Thái, Trần Quang Đạo, Nguyễn Hữu Quý, Mai Văn Phấn, Đoàn Minh Tuấn, Vũ Toàn, Nguyễn Thành Phong, Nguyễn Sỹ Đại, Phạm Sỹ Sáu, Bùi Chí Vính, Lê Minh Quốc, Đặng Vương Hưng, Nguyễn Ngọc Phú, Hồng Thanh Quang, Ngô Tự Lập… Một luồng khác là những sinh viên trong những năm cuối chiến tranh và những năm sau hòa bình lập lại 1975 vừa tốt nghiệp các trường đại học ra công tác ở khắp mọi miền đất nước. Lực lượng thanh niên xung phong và những nhà thơ trẻ trưởng thành trong lực lượng vũ trang thời bình.
Đó là: Dương Kiều Minh, Nguyễn Lương Ngọc, Irasara, Dương Thuấn, Văn Công Hùng, Nguyễn Văn Hùng, Tuyết Mai, Nguyễn Thị Mai, Nguyễn Bình Phương, Thu Nguyệt, Nguyễn Trọng Hoàn, Trương Nam Hương, Cao Xuân Sơn, Giáng Vân, Trần Kim Hoa, Đặng Thanh Hương, Nguyễn Thanh Mừng, Nguyễn Linh Khiếu… Thơ trẻ xuất hiện trên thi đàn với sự tươi mới của nguồn sống dạt dào và ngọn lửa sáng tạo ngùn ngụt. Họ một phần ảnh hưởng thơ truyền thống trước đó, một phần chịu tác động của thời cuộc. Tác phẩm của họ mang hơi thở của thời đại hội nhập, nguồn thơ của họ mang nhiều tâm trạng của lớp trẻ trước ngưỡng cửa cuộc đời mới trong một thế giới mở cửa và nhiều liên kết. Họ chủ yếu là những cây bút trẻ cả về tuổi đời và tuổi sáng tác nên thơ mang dấu ấn cá nhân nhiều hơn thế sự.
Họ có tâm hồn nhạy cảm, có những rung động tinh tế trước thiên nhiên và con người. Họ được đón nhận nhiều Thơ trẻ Việt Nam từ năm 1986 đến nay 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Phan Thị Thanh Phong luồng văn hóa Đông- Tây nên tác phẩm mang vẻ đẹp hiện đại, cách nói hiện đại, suy nghĩ hiện đại trong một lực lưỡng xông xáo, chưa định hình nhưng đã có những thành tựu ban đầu. Ở chặng đường phát triển này, những tác giả thơ hình thành ở thời kỳ đầu đã vào độ chín. Một số nhà thơ vẫn chung thủy với lối viết truyền thống.
Bên cạnh đó nhiều người không bằng lòng với lối viết cũ đã mạnh dạn bứt phá bằng thi pháp mới: mở rộng biên độ thơ, thay đổi cấu trúc thơ làm thơ không vần, thơ triết luận… 1. THỜI KỲ 1986 ĐẾN NAY Năm 1986 thường được gắn với mốc khởi đầu của thời kỳ đổi mới. Những bước chuyển quan trọng đã diễn ra trong đời sống kinh tế. Những bước chuyển quan trọng đã diễn ra trong đời sống kinh tế, chịnh trị, xã hội và văn học thời kỳ này.
Sau ba mươi năm chiến tranh và mười năm hậu chiến, cuộc sống hòa bình và cơ chế thị trường đưa con người Việt Nam trở về với quỹ đạo bình thường của cuộc mưu sinh. Xu hướng dân chủ hóa, ý thức cá nhân, những lựa chọn của con người trong thời cơ chế thị trường… đã tác động sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của con người. Giai đoạn trước người ta nói đến tính chất sử thi, tính chất đồng ca trong thơ. Nay thơ đã thiên về diễn tả cảm xúc, tâm trạng con người cá nhân cá thể.
Thậm chí có tác giả đi sang thái cực khác: tuyệt đối hóa con người cá nhân, tô đậm thái quá phần vô thức và bản năng… Điều này dẫn tới sự xuất hiện nhiều ý kiến, nhiều thái độ khi đánh giá về thơ giai đoạn này. Người lạc quan coi những tác phẩm thơ của chúng ta đã đến đỉnh cách tân, sáng tạo; Người bi quan lớn tiếng phê phán về một nền thơ đang suy thoái, vàng thau lẫn lộn, nhố nhăng… Theo sự quan sát của chúng tôi, đề cao quá mức hay chỉ trích, phủ định đều là những cái nhìn phiến diện. Giai đoạn này quy tụ một lực lượng thơ trẻ đông đảo. Những cây bút sinh ra trong thời bình, vừa rời khỏi ghế nhà trường.
Điều kiện tiếp xúc với Thơ trẻ Việt Nam từ năm 1986 đến nay 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Phan Thị Thanh Phong thế giới bên ngoài cũng rộng mở hơn. Sự háo hức đi tìm cái mới và thể hiện cái mới của đội ngũ này ồn ào và khá quyết liệt. Dường như bút lực và cảm xúc trong họ đang được dồn nén để bứt phá, để dãi bày, để trang trải những cảm xúc của lòng mình. Họ ưa lối nói mạnh bạo, hướng đến những đề tài “nóng” về tình yêu, họ rung lên những âm thanh nhục cảm, họ khát khao với thi ca như một sự cuồn tín: “Tôi ứa máu những câu thơ siêu việt/ Rách cằm ngã đến đơn độc/ Nở tận cùng đến chết” (Vi Thùy Linh).
Nhiều gương mặt mới đã được bạn đọc quan tâm: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Trương Quế Chi, Lê Thị Mỹ Ý, Dạ Thảo Phương, Trần Lê Sơn Ý, Khương Hà, Nguyệt Phạm, Thanh Xuân, Linh Barcadi, Phương Lan, Nguyễn Thúy Hằng, Bình Nguyên Trang, Phạm Vân Anh, Nguyễn Thanh Vân, Chu Thị Minh Huệ, Ngô Thị Hạnh, Lê Ngân Hằng, Trang Thanh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Văn Cầm Hải… Họ với cá tính sáng tạo và năng lực cá nhân đều cố gắng đi tìm những cách thức phong phú để thể hiện giọng điệu mới, phục vụ cho việc tái hiện chân thành hiện thực đời sống và hiện thực tâm trạng. Từ chối những “đường viền kẻ sẵn cho thơ” (Chữ của Nguyễn Hữu Hồng Minh). Với tinh thần nhận thức lại truyền thống “gây hấn” với truyền thống, đưa cái hiện đại của đời sống hiện đại vào thơ, họ tạo ra những tứ thơ, những câu thơ lạ. Ví dụ: “…Ngoài đường cái quan/ Xe rác chạy rầm rập/ Đống lửa bao ni lon đựng rác/ Đôi tình nhân khét lẹt/ Chàng thương binh ngực đầy huân chương/ Vẫn hô một hai hành quân không chịu nghỉ/ Nàng thất tình/ Hoa mướp bồng áo bông/ Ru hời” Thoại Khanh- Châu Tuấn/ Đun nấu sụt sùi đứt ruột ống bơ…” (Rỗng ngực- Phan Huyền Thư) Cách tổ chức hệ thống hình ảnh, cấu trúc câu thơ, nhịp thơ và cảm xúc cho thấy việc khước từ những kinh nghiệm, quan niệm thẩm mỹ truyền thống, đưa những chất liệu mới vào thơ… đang là bè chính trong thơ hiện này.
Bên cạnh đó, thơ cũng tiếp thu mạnh mẽ ảnh hưởng của các loại hình nghệ thuật phi diễn giải từ phương Tây như nghệ thuật hội họa, nghệ thuật Thơ trẻ Việt Nam từ năm 1986 đến nay 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Phan Thị Thanh Phong trình diễn… Họ quyết tâm khai phá những hướng đi mới, dù biết chắc nhiều chông gai. Từ cổ chí kim, ta gặp không ít quan niệm thơ là gì, đâu là sứ mệnh của nhà thơ. Mỗi nhà thơ đều đưa ra những tuyên ngôn nghệ thuật riêng dù tất cả đều hướng đến cái đích cuối cùng là viết nên những tác phẩm hay, cống hiến cho bạn đọc. Biết sáng tác thơ “không phải là nghề mà là nghiệp” (Đoàn Thị Lam Luyến), song các nhà thơ trẻ vẫn theo đuổi con đường đã chọn, thậm chí với một niềm tin mạnh mẽ và táo bạo: “Làm người đàn bà hay làm thơ tôi đều muốn làm mới và lạ”.
Đó là lời tuyên bố của “người thiếu phụ tuổi 20” Vi Thùy Linh. “Tôi làm thơ để giải tỏa những mong đợi” (Vi Thùy Linh, Nhà thơ và những mong đợi). Inrasara trong Bất ngờ nhiều cái tối nay cho rằng: “Tôi làm thơ để cãi nhau với cái bóng của mình”. “Câu thơ ngồi dỗ vết bầm trái tim” (Trương Nam Hương).
“Có bài thơ mang thai thế kỷ. Có câu thơ thức dậy kiếp người” (Dương Kiều Minh). Phan Huyền Thư chống lại sự màu mè và giả dối của “những bài thơ ảnh viện”, kiên quyết “không đổi giọng thành kẻ khác”… Quan niệm về thơ của các nhà thơ trẻ đầy mạnh mẽ, đầy quyết đoán trong việc đi tìm cái mới, đi tìm một nguồn thơ dạt dào chảy về từ sự nổi loạn trong tâm hồn đòi hỏi được giải phóng, được dấn thân, được nói, được tung hoành cùng với lối viết bạo dạn, tự do phóng khoáng. Vẫn là Vi Thùy Linh, nhà thơ trẻ quan niệm: “Tôi luôn muốn tạo sự độc đáo riêng biệt trong lối tư duy, diễn đạt và hình ảnh.
Tôi muốn làm những điều chưa ai làm, hoặc không ai làm được, khó “nhái” được, dù cho vì sự tiên phong mạnh mẽ, tôi đã chịu nhiều thiệt thòi, cô lập, thậm chí là sự tấn công của những người bảo thủ, tư duy cũ. Chính những đòi hỏi ấy ở bản thân khiến tôi trở nên vất vả khi sáng tạo, vì tôi luôn buộc mình không được lặp lại tôi, không giống người khác trong nghệ thuật, để tạo được dấu ấn riêng, là điều không dễ có, không dễ làm được. Sống tận lực bằng tình yêu cuộc Thơ trẻ Việt Nam từ năm 1986 đến nay 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn Thạc sĩ Phan Thị Thanh Phong sống, cá tính đời thực và cá tính nghệ thuật của tôi là một. Tôi dám sống, dám dấn thân, dám đi đến cùng.
Không mưu toan vụ lợi gì, vào thơ, tôi yêu thơ bằng tình yêu say đắm, tận trung của một người si tình, chung tình, không tiếc gì cho tình yêu ấy”. Chị từng trăn trở: Em hằng thức trong những câu thơ buồn Em hằng đau trong những đêm không ngủ Em tỏa nhiệt vào thơ bất kể mùa nóng lạnh Thơ là em hay em là thơ? Như tiền định Như tiên cảm… (Những câu thơ mang vị mặn- Vi Thùy Linh) Vi Thùy Linh nổi lên với ba tập thơ: Khát, Linh và Đồng tử và được đánh giá là một tác giả thơ thế hệ mới có nhiều cống hiến cho thơ đương đại. Chị luôn khao khát biểu hiện cái tôi trước cuộc đời, cái tôi bản thể mang tính khác biệt. “Với tôi, cuộc đi đẹp nhất trong sáng tạo là độc mã.
Tôi phục những con người dám tách khỏi bầy, dù nó sẽ gặp nhiều hiểm nguy” cho dù “tự tìm kiếm và khai phá con đường khác, sống khác với xu thế, với đám đông phong trào, để riêng biệt là mình với những lựa chọn của mình, đồng nghĩa với mất dần các mối quan hệ sau mỗi lần gặp họa, sự biến và nhân lên sự cô đơn”. Thơ trẻ đương đại dám là mình, chấp nhận mọi thách thức để dám là mình trong sáng tạo.