mở đầu cuộc chiến trang xâm lược đất nước Việt Nam ta. Năm 1862, Phan Thanh Giản thay mặt triều đình phong kiến nhà Nguyễn ký với Pháp hiệp ước cắt nhường ba tỉnh miền Đông Nam Bộ. Đến năm 1867, Phan Thanh Giản tiếp tục đầu hàng, ký hiệp ước dâng nốt ba tỉnh miền Tây khiến toàn cõi Nam bộ rơi vào tay Pháp. Năm 1873, Pháp đánh Hà Nội, Quan khâm mạng trông coi việc Bắc kỳ Nguyễn Tri Phương kiên quyết giữ thành nhưng sau đó trúng đạn và bị giặc bắt.
Một mực trung thành không chịu nhục, không chịu bán nước, ông tuyệt thực đến chết. Thành Hà Nội không giữ được. Tiếp đó, các thành Hải Dương, Ninh Bình và quê hương Nam Định của Trần Tế Xương cũng mất liên tiếp vào tay quân giặc. Do thiếu đường lối chỉ đạo đúng đắn và quyết tâm kháng chiến của triều đình nhà Nguyễn, mặc dù cuộc đấu tranh của nhân dân diễn ra bền bỉ và deo dai, nhiều lần khiến thực dân Pháp phải chịu tổn thất, song cuối cùng Việt Nam đã trở thành thuộc địa của thực dân Pháp.
Hiệp ước Pa-tơ-nốt ký kết ngày 06-06-1884 là hiệp ước cuối cùng đánh dấu sự đầu hàng hoàn toàn của triều đình phong kiến nhà Nguyễn Việt Nam độc lập. Trong những năm cuối của thế kỷ XIX, cuộc đấu tranh chống Pháp của nhân dân ta vẫn tiếp tục nổ ra. Từ 1885 đến 1895, mười năm ấy cũng là thời thanh niên của Tú Xương khi mà nhà Nguyễn đã hoàn toàn đầu hàng vô điều kiện. Tháng 07 năm 1885, phong trào Cần Vương được phát động , kéo dài đến năm 1896 mới chấm dứt.
Cùng lúc đó, phong trào đấu tranh tự vệ ở các địa phương, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa nông dân Yên Thế như một biểu hiện cụ thể và sinh động của tinh thần quật khởi và bất khuất của nhân dân ta… Mặc dù thất bại, do những nguyên nhân chủ quan và khách quan nhưng phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX cũng đã làm tròn sứ mệnh của những trận đánh thử thách, của nhiệm vụ lịch sử, đánh mốc son trong trang lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Giai đoạn 1897 – 1907 sau đó cũng chính là giai đoạn mười năm cuối đời của nhà thơ Tú Xương. Lúc này, thực dân Pháp đã hoàn thành công cuộc xâm lược và bình định bằng quân sự và bắt đầu thực hiện cuộc khai thác thuộc địa trắng trợn và tàn bạo về mọi mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Đây cũng là giai đoạn bọn Việt gian bán nước hoành hành bằng phản bội, nịnh hót, lừa bịp, … Tuy nhiên, cũng trong giai đoạn này, cụ thể là từ năm 1898 trở đi, nhiều luồng gió mới, yếu tố mới đã xảy đến và có tác động tích cực với tầng lớp sĩ phu yêu nước Việt Nam.
Đó là từ các cuộc vận động của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu của Trung Quốc, của cuộc chinh biến Mậu Tuất và những tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ của Rút-xô, Vôn-te, Mông-te-ski-ơ, …. Hàng loạt các cuộc vận động cách mạng của các lãnh đạo có xuất thân từ thành phần phong kiến như Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Tăng Bạt Hổ, Ngô Đức Kế, Tăng Bạt Hổ, … đã bắt đầu ít nhiều có xu hướng tư sản. Đặc biệt hơn, trong số đó có không ít người là bạn thân của nhà thơ Tú Xương và có ảnh hưởng nhất định tới tư tưởng sáng tác của nhà thơ này. Ôn lại tiểu sử của nhà thơ thành Nam Trần Tế Xương, chúng ta có thể thấy cuộc đời ngắn ngủi 37 năm của ông đã nằm gọn trong một giai đoạn bi thương bậc nhất của đất nước.
Trần Tế Xương tên thật là Trần Duy Uyên, quen gọi là Tú Xương, tự là Mặc Trai, hiệu là Mộng Tích, đến khi thi Hương mới lấy tên là Trần Tế Xương. Ông sinh ngày 05 tháng 09 năm 1870 tại phố Đình Hữu, làng Vị Xuyên, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Ðịnh tức phố Hàng Nâu, khu Đình Hữu, Nam Định ngày nay và mất ngày 20 tháng 01 năm 1907 ở làng Ðịa Tứ cùng huyện. Ông thuộc dòng dõi nho gia, vốn là họ Phạm, đổi thành họ Trần là bởi vào đời nhà Trần lập công lớn được phong “quốc tính”, được vua cho đổi họ cũ lấy họ của vua. Thân sinh của Trần Tế Xương là cụ Trần Duy Nhuận cũng là một nhà nho, sinh thời thi nhiều khoa nhưng không đỗ, sau làm chức Tự thừa ở dinh đốc học Nam Định, sinh được 9 người con, 6 trai, 3 gái, Tú Xương là con trưởng.
Tú Xương đi học sớm và sớm nổi tiếng thông minh. Ông theo học chữ Hán cụ Kép Thành Thị, tên là Trần Chấn Thái, một nhà nho ở Nam Định. Có rất nhiều câu chuyện truyền lại về tư chất thông minh và tài nhớ nhanh của chú bé Trần Duy 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Uyên này. Có người kể lại câu chuyện khi Duy Uyên lên mười, khi có bạn của cha đến nhà chơi, nhân trước nhà có dãy chậu hoa, cụ khách ra đối: “Đình tiền ngũ sắc hoa…”, Duy Uyên liền đối lại: “Lung trung bách thanh điểu”.
Khách nghe xong tấm tắc khen tài nhưng “theo khẩu khí, nhất định đời nó sẽ lao đao, lận đận, khó bề ngang dọc, vẫy vùng !”. Nói vậy là bởi, đời xưa có lối đoán tương lai theo duy tâm vì khẩu khí để lộ ra có chim hay bị nhốt trong lồng. Hay câu chuyện khi Tú Xương được mời viết văn tế khi làng có lễ. Khi mọi người giục cuồng cuồng lên vì giờ hành lễ sắp bắt đầu, ông vẫn ung dung, thản nhiên nói: “Các ông không lo.
Tôi làm văn, tôi sẽ đọc lấy. Và quả thực vậy, đến giờ tuyên đọc văn tế, chỉ cầm một tờ giấy trắng, nhưng ông đọc lưu loát như thể có bài văn tế thần viết sẵn. Một lần khác, khi sang viếng tang người hàng xóm, bà vợ kế của ông này nhờ xin nhà thơ viết cho câu đối, nhà thơ cũng không suy nghĩ lâu mà cầm lấy bút đề ngay một câu: “Thân cò lặn lội bờ sông, rủ rỉ nuôi con mà hóa thực” họa theo câu ca dao quen thuộc của dân gian: “Cái cò lặn lội bờ sông, Gánh gạo nuôi chồng, tiếng khóc nỉ non.” Chẳng những thông minh, tài trí, ông còn là một trong những người đầu tiên dịch những bài thơ Đường của Lý Bạch, Đỗ Phủ sang Tiếng Việt một cách “lưu loát tự nhiên như một bài nguyên tác, chứ không có những ý, những chữ gò ép sống sượng”. Ở đây, chúng tôi xin ví thử một bài, đó là Cung trung hành lạc (được dịch là Thú vui trong cung) của Lý Bạch: “Gió thơm lồng trướng gấm, Nắng sáng lọt nhà vàng.
Thềm ngọc hoa đua nở, Hồ trong cỏ dâng hương. Lầu cao con gái múa, Cây biếc tiếng chim vang. Đào lý ngày xuân tốt, Cung tiên nỗi nhớ thương” 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Về chuyện thi cử của Tú Xương, từng có ý kiến cho rằng “lịch sử đời nhà thơ là lịch sử của một người suốt đời lận đận vì thi mà chẳng bao giờ toại nguyện”. Quả thực vậy, nhờ theo học cụ Tú kép Thành Thị và “thiên tư sớm phát”, năm 1886 (Bính Tuất), niên hiệu Đồng Khánh thứ nhất, triều đình mở khoa thi Hương ân khoa, trường Hà Nội và Nam Định hợp thi tại Nam Định, Trần Duy Uyên đổi tên thành Tế Xương (Trần Tế Xương) dự thi lần thứ nhất nhưng không đỗ.
Cùng trong năm này, Trần Tế Xương lấy vợ là bà Phạm Thị Mẫn, người làng Lương Đường, Hải Dương. Năm 1888 (Mậu Tý), Trần Tế Xương đi thi lần thứ hai không đỗ. Năm 1891 (Tân Mão), Trần Tế Xương thi Hương lần thứ ba không đỗ. Năm 1894 (Giáp Ngọ), đời vua Thành Thái thứ sáu, Trần Tế Xương thi Hương lần thứ tư đỗ Tú tài.
Trong năm này ông có bài thơ Gửi bạn thi đỗ. Năm 1897 (Đinh Dậu), Trần Tế Xương thi Hương lần thứ năm, không đỗ. Ông làm các bài thơ như Đi thi, Hương thí tự trào, Lễ xướng danh khoa Đinh Dậu, Giễu người thi đỗ. Năm 1900 (Canh Tý), Trần Tế Xương thi Hương lần thứ sáu vẫn không đỗ.
Ông làm các bài như Giễu khoa thi Canh Tý, Than sự thi và Phú hỏng thi. Năm 1903 (Quý Mão), thực dân Pháp quy định thí sinh phải đỗ cả hai kì thi chính và phụ (thi Hương truyền thống và kì thi phụ bằng tiếng Việt và tiếng Pháp) thì mới được bổ nhiệm làm quan. Trần Tế Xương đổi tên thành Cao Xương, thi Hương lần thứ bảy, không đỗ, hỏng vẫn cứ hỏng. Bài thơ Hỏng thi khoa Quý Mão cũng nhắc đến chuyện đổi tên này: “Tế đổi làm Cao mà chó thế ! Kiện trông ra Tiệp hỡi trời ôi !” song theo tương truyền Yên Đổ Nguyễn Khuyến “không hài lòng” ở chỗ Trần Tế Xương ứng đối “trời” với “chó” nên rằng: “Rằng hay thì thực là hay, Đem Trời đối Chó lão này không ưa.” Năm 1906 (Bính Ngọ), toàn quyền Đông Dương ra nghị định lập Hội đồng hoàn thiện nền giáo dục bản xứ nhằm loại bỏ Hán học.
Vua Thành Thái cũng ban hành cải cách thi Hương ở Bắc kỳ về việc “bỏ kinh nghĩa và thơ phú, bắt buộc thí sinh phải thi thêm luận Quốc ngữ, khoa học thường thức và một bài dịch tiếng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trần Tế Xương tiếp tục đi thi Hương lần thứ tám. Đây cũng là khoa thi cuối cùng trong đời ông nhưng vẫn “hỏng”. Các bài thơ Thi hỏng II, Thi hỏng III được ra đời.
Có thể thấy rằng, cuộc đời Trần Tế Xương gần như gắn liền với thi cử, tính ra có tất cả tám lần. Đó là các khoa: Bính Tuất (1886), Mậu Tý (1888), Tân Mão (1891), Giáp Ngọ (1894), Đinh Dậu (1897), Canh Tý (1900), Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906). Sau 3 lần hỏng thi mãi đến lần thứ tư khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là “tú tài thiên thủ” (lấy thêm). Sau đó không sao lên đỗ cử nhân, bằng cấp tối thiếu để người nho sĩ trong chế độ phong kiến được bổ làm quan mặc dù kiên trì theo đuổi.
Cũng bàn tới chuyện thi cử của Trần Tế Xương, luôn có một câu hỏi được đặt ra đầy mâu thuẫn, đó là việc nhà thơ mặc dù rất kịch liệt lên án, phản đối và đả kích chế độ khoa cử nhưng trong thực tế ông lại cứ mãi kiên trì đeo đuổi và suốt đời lận đận vì “cái nợ đời” ấy? Đã có nhiều lý giải cho câu chuyện này, song chúng tôi tán đồng với ý kiến của Trần Thanh Mại và Trần Tuấn Lộ trong cuốn Tú Xương, con người và nhà thơ (1961).