MỞ ĐẦU 1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI “Bạo lực chống lại phụ nữ là biểu hiện của các quan hệ quyền lực không bình đẳng về mặt lịch sử giữa nam giới và nữ giới, điều đó dẫn tới sự thống trị và phân biệt dối xử của nam giới đối với phụ nữ và ngăn cản sự tiến bộ mọi mặt của phụ nữ” (United Nations 1995) Trước năm 1993, phần lớn các Chính phủ coi bạo lực chống lại phụ nữ chủ yếu là vấn đề riêng tư giữa các cá nhân (United Nations 1996). Tuy nhiên trong những thập kỷ gần đây, xóa bỏ tình trạng phân biệt đối xử đối với phụ nữ đã trở thành một trong những nội dung quan trọng của cuộc đấu tranh vì quyền con người của phụ nữ. Phụ nữ có quyền bình đẳng với nam giới trên tất cả các lĩnh vực là nội dung được ghi nhận trong hệ thống pháp luật quốc tế và hệ thống pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới.
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một trong những hình thức của bạo lực chống lại phụ nữ. Các nghiên cứu trên thế giới đã cho thấy bạo lực gia đình là một hiện tượng có tính chất toàn cầu và hiện đang tác động đến khoảng 20-50% toàn bộ phụ nữ trên thế giới. “Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xảy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là đàn ông” (WHO 1998). Bạo lực gia đình ngày càng được nhìn nhận như “một trở ngại đối với sự bình đẳng và là sự vi phạm không thể chấp nhận được đối với nhân phẩm con người” 1.
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ của Liên Hiệp Quốc 1 Vũ Mạnh Lợi và cộng sự: “Việt Nam- Bạo lực trên cơ sở giới”. Hà nội, 11/1999, trang 16 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung (CEDAW) và Chương trình hành động Bắc Kinh. Điều này cho thấy chính phủ Việt Nam đã nhận thức được tầm quan trọng của việc xóa bỏ nạn bạo lực chống lại phụ nữ nói chung và bạo lực gia đình đối với phụ nữ nói riêng đối với sự phát triển của phụ nữ, đối với mục tiêu bình đẳng giới. Ở Việt Nam, trong những năm gần đây, bạo lực gia đình đã được đề cập đến trên các phương tiện truyền thông đại chúng, nhiều nghiên cứu về bạo lực gia đình được thực hiện, các mô hình phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ được áp dụng ở các địa phương.
Tuy nhiên, trong 3 hình thức bạo lực gia đình được đề cập đến là: bạo lực thể chất, bạo lực tình thần và bạo lực tình dục thì hình thức bạo lực tình dục dường như ít được “quan tâm” hơn cả bởi tính chất nhạy cảm của nó. Trong nền văn hóa Việt Nam, tình dục là vấn đề ít được các cặp vợ chồng thảo luận một cách cởi mở. Những nghiên cứu hiện nay về phụ nữ Việt Nam cho thấy người phụ nữ thường được mô tả là tương đối “thụ động” trong quan hệ tình dục. Họ có vẻ chấp nhận và chịu đựng trong quan hệ tình dục với chồng hơn là tham gia một cách chủ động trong quan hệ này.
Do vậy, cưỡng bức tình dục trong hôn nhân thường khó được nhận biết bởi nó bị che lấp bởi những chuẩn mực đạo đức, những quan niệm về đức hạnh của phụ nữ. Cưỡng bức tình dục không chỉ gây ra những tổn thương về mặt thể xác mà còn gây ra những hậu quả về tinh thần đối với người phụ nữ cũng như ảnh hưởng tới hạnh phúc gia đình. Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân - Nghiên cứu trường hợp tại xã Gia Vượng, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, Hà Nội” làm đề tài luận văn nhằm tìm hiểu thực trạng của vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân tại nông thôn và đô thị Việt Nam, nguyên nhân của vấn đề này cũng như những hậu quả đối với người phụ nữ và cuộc sống gia đình. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 2.
Ý NGHĨA LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 2. Ý nghĩa lý luận Phòng chống bạo lực với phụ nữ trong gia đình nói chung và vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân nói riêng được rất nhiều ngành khoa học và tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu. Việc vận dụng các kiến thức xã hội học vào nghiên cứu chủ đề trên sẽ góp phần làm phong phú thêm lý thuyết của khoa học xã hội học. Ý nghĩa thực tiễn Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân là một vấn đề có tính “nhạy cảm” nhất là trong một xã hội mà các chuẩn mực, giá trị vẫn chịu ảnh hưởng của quan niệm Nho giáo.
Nghiên cứu góp phần đưa ra một bức tranh rõ nét về thực trạng về hiện tượng cưỡng bức tình dục trong hôn nhân-một biểu hiện của sự vi phạm quyền con người. Kết quả nghiên cứu góp phần lý giải mức độ phổ biến, các hình thức của cưỡng bức tình dục trong hôn nhân; nguyên nhân dẫn đến cưỡng bức tình dục và hậu quả. Từ đó, nghiên cứu đưa ra một số kết luận và khuyến nghị làm cơ sở cho các tổ chức xã hội có cùng mối quan tâm cũng như đưa ra một vài khuyến nghị có tính khả thi. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU Mục đích của đề tài là tìm hiểu thực trạng vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân (tại một vùng nông thôn Bắc bộ và một phường của thành phố Hà Nội), từ đó tìm ra các nguyên nhân và hậu quả cũng như đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm giải quyết vấn đề này.
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4. Tìm hiểu quan niệm và hành vi tình dục của nam giới và phụ nữ trong gia đình. Tìm hiểu và phân tích mối liên hệ giữa cưỡng bức tình dục trong hôn nhân và các hành vi bạo lực gia đình khác. Tìm hiểu và phân tích các nguyên nhân và hậu quả của vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân.
7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 4. Tìm hiểu kiến thức và hành vi của lãnh đạo chính quyền đối với vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân. Đưa ra kết luận và đề xuất một số khuyến nghị, giải pháp nhằm giải quyết vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân. ĐỐI TƢỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI, MẪU NGHIÊN CỨU 5.
Đối tượng nghiên cứu: Cưỡng bức tình dục trong hôn nhân 5. Khách thể nghiên cứu - Phụ nữ và nam giới đã có gia đình trong độ tuổi từ 20-55 - Nạn nhân và thủ phạm của bạo lực gia đình chống lại phụ nữ. - Cán bộ chính quyền, đoàn thể 5. Phạm vi nghiên cứu - Thời gian: từ 06/2007 đến 7/2008 - Không gian: nghiên cứu chọn mẫu tại xã Gia Vượng huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, và phường Tứ Liên, Quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội.
Mẫu nghiên cứu - 400 bảng hỏi - 6 thảo luận nhóm với người dân, cán bộ chính quyền đoàn thể - 26 phỏng vấn sâu với nam giới gây bạo lực gia đình, phụ nữ là nạn nhân và nhóm cán bộ chính quyền đoàn thể. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu đã sử dụng kết hợp các phương pháp định tính và định lượng để thu thập thông tin. Các phương pháp cụ thể bao gồm: 6. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Nhằm tìm hiểu mức độ phổ biến và nhận thức của nam giới và phụ nữ đã lập gia đình, chúng tôi đã tiến hành phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.
Một bảng hỏi ngắn gọn với 15 câu hỏi đã được xây dựng. Việc chọn mẫu được tiến hành như sau: Dựa trên danh sách các hộ gia đình do các cộng tác 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung viên dân số cung cấp, chúng tôi lựa chọn các gia đình có các cặp vợ chồng trong độ tuổi cần thu thập. Sau đó, số hộ gia đình được chia đều cho số mẫu cần lấy. Khi đã xác định được khoảng cách mẫu, chúng tôi tiếp tục lựa chọn ngẫu nhiên có chủ đích dựa trên danh sách sao cho số nam giới và số phụ nữ được mời trả lời là bằng nhau và không có cặp vợ chồng nào cùng được hỏi.
Kết quả thu được 396 bảng hỏi (200 bảng tại Hà Nội và 196 bảng tại Ninh Bình) với các đặc điểm cụ thể như sau: Giới tính: nam: 192 (48,5%); nữ: 204 (51,5%) Độ tuổi Độ tuổi Số người (tỷ lệ) Dưới 20 tuổi 16 người (4 %) Từ 20 – 35 tuổi 188 (47,5%) Từ 36-50 tuổi 144 người (36,4%) Trên 50 tuổi 48 người (12,1%) Số con trong gia đình Số con trong gia đình Số người (tỷ lệ) Chưa có con 18 người (4,5%) 1 con 60 người (15,2%) 2 con 252 người (63,6%) 3 con 36 người (9,1%) Nhiều hơn 3 con 30 người (7,6%) Số năm kết hôn Số năm kết hôn Số người (tỷ lệ) 1-5 năm 62 người (15,7%) 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung 6-10 năm 84 người (21,2%) 11- 15 năm 104 người (26,3%) 16-20 năm 40 người (10,1%) Trên 20 năm 106 người (26,7%) Trình độ học vấn - Cấp 1: 34 người (8,6%) - Cấp 2: 130 người (32,8%) - Cấp 3: 112 người (28,3%) - Trung cấp, cao đẳng: 82 người (20,7%) - Đại học: 30 người (7,6%) - Sau Đại học: 8 người (2%) Nghề nghiệp - Nông nghiệp: 160 người (40,4%) - Buôn bán nhỏ: 80 người (20,2%) - Cán bộ nhà nước: 156 (39. Phương pháp thảo luận nhóm tập trung 6 cuộc thảo luận nhóm tập trung đã thực hiện tại 2 địa bàn nghiên cứu với 1) nhóm người dân ở các địa phương, đó là nam giới và phụ nữ đã có gia đình (2 nhóm nam và 2 nhóm nữ); 2) Nhóm lãnh đạo xã/phường và các ban ngành đoàn thể tại địa phương. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sỹ Nguyễn Thị Kim Dung Địa điểm chủ yếu để tiến hành các thảo luận nhóm tập trung là tại hội trường UBND xã/phường. Phương pháp phỏng vấn sâu Mục tiêu chung của phương pháp phỏng vấn sâu nhằm giúp người nghiên cứu hiểu sâu, hiểu kỹ về vấn đề cưỡng bức tình dục trong hôn nhân.
Phương pháp phỏng vấn sâu bán cấu trúc được sử dụng trong toàn bộ cuộc nghiên cứu. Các bảng hướng dẫn phỏng vấn sâu được xây dựng chi tiết cho từng đối tượng để đảm bảo thu được thông tin đầy đủ phục vụ cho nghiên cứu.