Tổng quan luận án

Quan hệ thông sứ giữa Việt Nam và Trung Quốc được thiết lập từ nửa cuối thế kỷ X, sau khi nhà nước phong kiến độc lập ở Việt Nam ra đời, và duy trì liên tục đến cuối thế kỷ XIX. Trong suốt tiến trình lịch sử đó, sứ thần hai nước đã thực hiện nhiều chuyến công cán và để lại một khối lượng tác phẩm văn học đi sứ phong phú bằng chữ Hán. Mặc dù các tác phẩm thơ đi sứ của sứ thần Việt Nam sang Trung Quốc (Sứ Hoa tập / Yên hành tập) đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu tương đối quy mô từ giới học thuật trong và ngoài nước, mảng thơ đi sứ của các sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam (Sứ Giao tập) lại chưa được khảo sát một cách toàn diện, có hệ thống. Các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc khảo cứu đơn lẻ một tác gia, một văn bản cụ thể hoặc tiếp cận thuần túy dưới góc độ sử học. Khoảng trống nghiên cứu này đòi hỏi một công trình chuyên khảo đặt mảng thơ đi sứ của sứ thần Trung Quốc vào trung tâm khảo sát dưới góc độ văn học kết hợp với văn bản học và nghiên cứu liên ngành lịch sử - văn hóa.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm các nội dung cụ thể sau:

  1. Hệ thống hóa và khảo sát toàn diện mảng tác phẩm thơ đi sứ của các sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII.
  2. Thẩm định văn bản, miêu tả diện mạo, phân loại thể loại và làm rõ các đặc điểm nghệ thuật, thi pháp của thơ đi sứ.
  3. Phân tích nội dung phản ánh, cảm hứng chủ đạo, giá trị lịch sử, văn hóa, phong tục và quan hệ bang giao thể hiện qua các thi phẩm.
  4. Làm sáng tỏ hoạt động đón tiếp, xướng họa thơ ca của vua tôi Việt Nam, qua đó đánh giá năng lực văn chương chữ Hán của tầng lớp trí thức hai nước và sự giao lưu văn hóa khu vực.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là các sứ thần chính thức đại diện cho các triều đình phong kiến Trung Quốc (Tống, Nguyên, Minh, Thanh) sang thực hiện sứ mệnh tại Việt Nam (gồm Chánh sứ, Phó sứ và các tùy viên có tác phẩm nổi bật được chính sử ghi nhận), cùng các tác phẩm thơ đi sứ Việt Nam của nhóm sứ thần này và các cặp thơ xướng họa, thù tặng, đề vịnh giữa họ với vua tôi cấp cao của Việt Nam.

Phạm vi nghiên cứu và tư liệu:

  • Phạm vi không gian: Khảo sát các nguồn tư liệu được lưu trữ tại các thư viện và trung tâm lưu trữ của Trung Quốc (Thư viện Quốc gia Bắc Kinh, Thư viện Đại học Bắc Kinh, Thư viện Quảng Tây, Thư viện Đại học Dân tộc Quảng Tây...) và Việt Nam (Viện Nghiên cứu Hán Nôm).
  • Phạm vi thời gian: Giới hạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII (bắt đầu từ sứ đoàn nhà Tống sang năm 973 dưới thời Tống Thái Tổ đến sứ đoàn nhà Thanh sang năm 1793 thời Càn Long). Luận án không khảo sát giai đoạn thế kỷ XIX do bối cảnh lịch sử, thể chế bang giao và tính chất xã hội của thế kỷ XIX có sự biến đổi phức tạp cùng sự can thiệp của nước thứ ba (Pháp) và triều Nguyễn đổi quốc hiệu năm 1803; trong khi giai đoạn từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII có tính chất thể chế và quan niệm bang giao tương đối nhất quán.
  • Phạm vi tư liệu: Dựa vào 6 bộ Sứ Giao thi hoàn chỉnh còn lưu trữ (Giao Châu cảo, Sứ Giao cảo, Vạn lý chí, Giao hành trích cảo, Sứ Giao tập, Sứ Giao ngâm / Sứ Giao kỷ sự) cùng các thi văn tập liên quan của các sứ thần và thư tịch chính sử, văn tập của cả hai nước. Luận án tuyển chọn và dịch nghĩa khoảng 100 bài thơ tiêu biểu đại diện cho các thời kỳ, đề tài và thể loại.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật chi tiết tình hình nghiên cứu thơ đi sứ tại khu vực Đông Á và mối quan hệ thông sứ Việt - Trung qua ba mảng chính:

Thứ nhất, nghiên cứu thơ đi sứ ở các nước thuộc vùng văn hóa Hán: Nghiên cứu thơ đi sứ giữa Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên đạt được nhiều kết quả nhất nhờ nguồn tư liệu Hoàng hoa tập (hơn 20 loại) và bộ Yên hành lục toàn tập (100 quyển, xuất bản tại Hàn Quốc năm 2001). Học giả Trung Quốc Điêu Thư Nhân và Sử Quế Vinh đã tổng kết các công trình thế kỷ XX của Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản. Nhiều học giả Trung Quốc như Liêu Triệu Hanh (Đài Loan) cùng các tác giả luận án nghiên cứu lộ trình, quan hệ sứ thần Minh - Triều. Về quan hệ Trung - Nhật, các nghiên cứu tập trung vào giao lưu thi ca thời Đường, cơ chế thông sứ thời Tống - Minh và tư tưởng "Trọng Hán khinh di" thời Nguyên - Thanh.

Thứ hai, nghiên cứu thơ đi sứ của sứ thần Việt Nam sang Trung Quốc:

  • Về sưu tập và văn bản: Nhóm biên soạn Viện Nghiên cứu Hán Nôm hợp tác với Đại học Phục Đán (Trung Quốc) xuất bản bộ Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành (25 quyển, 2010). Công trình Sứ thần Việt Nam (1996) của Nguyễn Thị Thảo, Phạm Văn Thắm, Nguyễn Kim Oanh thống kê 117 truyện ký, 463 sứ thần và 220 sứ bộ. Sách Chuyện đi sứ tiếp sứ thời xưa (2001) của Nguyễn Thế Long thống kê gần 300 sứ đoàn. Nguyễn Thanh Tùng khảo sát văn bản Hoàng Hoa sứ trình đồ bản của Nguyễn Huy Oánh.
  • Về dịch thuật và công bố: Sách Thơ đi sứ (1993) của Phạm Thiều, Đào Phương Bình; sách dịch của Viện Văn học; luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Ngọc Anh (2001).
  • Về nghiên cứu văn học: Các chuyên khảo về tác gia như Nguyễn Trung Ngạn (Nguyễn Công Lý), Nguyễn Văn Siêu (Nguyễn Thị Thanh Chung, 2011), thơ đi sứ 1740-1820 (Đỗ Thị Thu Thủy, 2015). Học giả Trung Quốc Lưu Ngọc Quần (2007), Trương Ân Luyện (nghiên cứu Phùng Khắc Khoan và Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập), Lý Na (nghiên cứu xướng họa năm 1849 của đoàn Phan Tĩnh, Mai Đức Thường, Nguyễn Văn Siêu).
  • Về lịch sử, văn hóa, ngoại giao: Liam C. Kelley với luận án tiến sĩ Beyond the Bronze Pillars: Envoy Poetry and the Sino-Vietnamese Relationship; Lý Xuân Chung với luận án tiến sĩ về thơ văn xướng họa Việt - Hàn (cùng nghiên cứu của Nguyễn Kim Sơn, Bùi Duy Tân, Nguyễn Tuấn Thịnh, Nguyễn Minh Tường); Trần Quốc Bảo (2011) nghiên cứu hình tượng Đại Thanh qua Sứ Hoa hành ký giai đoạn 1667-1880.

Thứ ba, nghiên cứu thơ đi sứ của sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam:

  • Giới nghiên cứu Việt Nam: Phạm Văn Thắm (1993) giới thiệu bài thơ An Nam tức sự của Trần Phu; Nguyễn Thu Hiền nghiên cứu tác phẩm Thiên Nam hành kỷ của Từ Minh Thiện; các sách lược sử và mẩu chuyện của Sông Bằng (Việt Hoa thông sứ sử lược, 1943), Nguyễn Thế Long, Học viện Quan hệ Quốc tế (Những mẩu chuyện đi sứ và tiếp sứ, 2001) ghi lại một số giai thoại xướng họa (Lý Giác - Đỗ Pháp Thuận năm 987, Hoàng Thường, Tiền Phổ năm 1462, câu đố của sứ Thanh với Lê Quý Đôn).
  • Giới nghiên cứu Trung Quốc: Về lịch sử, có Mã Minh Đạt (2002 - thời Nguyên), Đặng Xương Hữu (2004 - thời Tống), Trần Văn Nguyên (2005 - thời Minh), Tôn Hồng Niên (2006 - thời Thanh), Ngưu Quân Khải (2012 - quan hệ nhà Mạc). Về văn bản và văn học, Lưu Ngọc Quần (2007) khảo cứu danh mục 30 sứ thần với 13 Sứ hành lục và 15 Thi văn tập; Dương Khuông Hòa (2011) khảo sát văn bản Phó Dữ Lệ thi tập; Vương Hạo (2009) nghiên cứu Giao Châu cảo của Trần Phu; Ngưu Quân Khải (2011) nghiên cứu Giao hành trích cảo của Từ Phu Viễn; Dương Phú Học (1996) chú giải thư từ biện minh địa giới Khâu Ôn của Trần Thành; Lục Tiểu Yến và Diệp Thiếu Phi (2011) khảo cứu tính chân thực của chuyến đi sứ năm 987 của Lý Giác; Vương Học Vĩ (2006) nghiên cứu sứ thần thời Hồng Vũ (1368-1398) kết hợp phân tích Sứ trình đồ và thơ của Trương Dĩ Ninh, Lâm Đường Thần.

Khoảng trống học thuật: Các công trình trên chưa khảo sát toàn diện cả mảng thơ đi sứ của sứ thần Trung Quốc mà chỉ dừng ở từng tác phẩm đơn lẻ hoặc tiếp cận theo phương pháp sử học. Luận án này là công trình đầu tiên tập hợp, chỉnh lý và nghiên cứu hệ thống toàn bộ mảng thơ đi sứ của sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII từ góc độ văn học kết hợp liên ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án vận dụng hệ thống lý thuyết văn học trung đại, lý thuyết văn học so sánh và các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Khung lý thuyết:

    • Lý luận văn học sử và Thi pháp học: Tiếp cận tác phẩm trong tiến trình lịch sử văn học trung đại, phân tích cấu trúc văn bản, thể loại, ngôn ngữ thi ca, biểu tượng và bút pháp nghệ thuật.
    • Văn học so sánh: Đặt đối tượng nghiên cứu vào không gian văn hóa khu vực Đông Á (vùng văn hóa chữ Hán/đồng văn), so sánh sáng tác chữ Hán của sứ thần Trung Quốc với vua tôi Việt Nam, từ đó nhận diện sự tương đồng, dị biệt và năng lực tiếp nhận, sáng tạo văn học của hai bên.
    • Lý thuyết bang giao và văn hóa học: Xem xét thơ đi sứ trong bối cảnh thiết chế quan hệ triều cống phương Đông ("cầu phong - sách phong", "triều cống - đáp sính"), tư tưởng "úy thiên sự đại" của Việt Nam và "hoài nhu viễn nhân" của Trung Quốc.
  • Phương pháp nghiên cứu:

    • Phương pháp văn bản học: Thu thập, giám định, đối chiếu các bản khắc in, sao chép cổ chữ Hán từ các tổng tập, tùng thư (Tứ khố toàn thư, Tứ khố tồn mục tùng thư...) và văn tịch Hán Nôm để xác lập văn bản đáng tin cậy; khảo luận và đính chính các trường hợp nhầm lẫn về tác giả.
    • Phương pháp văn học sử: Kết hợp nghiên cứu tiểu sử tác giả, bối cảnh lịch sử - xã hội với phân tích thi pháp nhằm giải mã đề tài, chủ đề, cảm hứng và tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm.
    • Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn học với sử học, văn hóa học và địa lý học lịch sử để phân tích mối quan hệ giữa thực tế sứ trình với tác phẩm văn chương, sử dụng thi ca để bổ khuyết các sự kiện lịch sử mà chính sử không chép tường tận.
    • Các thao tác bổ trợ: Phiên dịch - chú giải văn bản Hán văn, phân loại, mô tả, so sánh và thống kê định lượng tư liệu văn bản.
  • Nguồn dữ liệu: Luận án khai thác 4 nhóm tư liệu chính:

    1. Kỷ yếu lịch sử bang giao và chính sử hai nước (Thực lục, Tống sử, Nguyên sử, Minh sử, Thanh sử cảo, Đại Việt sử ký toàn thư, Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí...).
    2. Tấu sớ, chiếu văn, thư từ ngoại giao lưu giữ trong các văn tập.
    3. Các bộ Sứ Giao thi, Hành ký, Hành trạng, Mộ chí minh do chính các sứ thần và thành viên sứ đoàn soạn thảo.
    4. Thi văn tập của các sứ thần, trí thức Việt Nam tham gia tiếp đón sứ đoàn (Thơ văn Lý - Trần, An Nam chí lược, Toàn Việt thi lục, Bang giao lục, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục, Quế Đường thi tập, Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 1 tổng thuật toàn diện lịch sử nghiên cứu thơ đi sứ tại các nước trong vùng văn hóa Hán (Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam). Tác giả chỉ ra sự mất cân đối rõ rệt: số lượng công trình nghiên cứu về sứ thần Việt Nam đi sứ Trung Quốc (Sứ Hoa tập) vượt trội so với nghiên cứu về sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam (Sứ Giao tập). Nguyên nhân do tác phẩm Sứ Hoa tại Việt Nam được coi là tinh hoa văn học dân tộc và được bảo tồn tập trung, trong khi tác phẩm Sứ Giao tại Trung Quốc bị phân tán, chìm lấp trong kho tàng điển tịch đồ sộ của Tứ khố toàn thư. Trên cơ sở đánh giá các kết quả của học giả đi trước, tác giả xác lập 4 hướng triển khai của luận án: khảo sát hệ thống toàn bộ mảng thơ đi sứ; thẩm định và mô tả diện mạo văn bản; phân tích giá trị văn học, lịch sử, văn hóa; làm rõ hoạt động tiếp sứ và trình độ xướng họa thơ chữ Hán của vua tôi Việt Nam.

Chương 2: Sứ thần Trung Quốc đến Việt Nam, lược sử thông sứ và giao lưu văn hóa

Chương 2 trình bày tiến trình lịch sử thông sứ từ sau năm 938/968 đến cuối thế kỷ XVIII, khởi đầu từ chuyến đi sứ của Vương Chiêu Viễn và Dương Trùng Mỹ năm 973 dưới thời Tống Thái Tổ sang phong chức cho Đinh Liễn. Quan hệ thông sứ duy trì cơ chế triều cống - phong vương: Việt Nam giữ thái độ mềm mỏng "úy thiên sự đại" để bảo vệ nền độc lập, Trung Quốc áp dụng chính sách "hoài nhu viễn nhân" để giữ yên biên giới phía Nam.

Luận án tổng hợp bảng số liệu thống kê số lượng sứ đoàn Trung Quốc sang Việt Nam từ năm 973 đến năm 1793:

Triều đại Trung Quốc Số lượng sứ đoàn Nguồn tư liệu trích dẫn
Nhà Tống 25 Luận án TS của Đặng Xương Hữu (2004)
Nhà Nguyên 27 Bài báo khoa học của Mã Minh Đạt (2002)
Nhà Minh 56 Luận án TS của Trần Văn Nguyên (2005)
Nhà Thanh 12 Công trình của Tôn Hồng Niên (2006)
Tổng cộng 120

Chương này cũng phân tích cơ chế tuyển chọn sứ thần (chủ yếu là văn quan xuất thân khoa cử từ Lễ bộ, Viện Hàn lâm, Quốc Tử Giám, thậm chí là trạng nguyên, đại học sĩ); quy chế khen thưởng, thăng chức (Trần Phu, Lỗ Đạc, Chu Xán) và xử phạt khi vi phạm quy chế bang giao (Nhâm Hưng Thái, Nhạc Chương, Đức Bảo, Cố Nhữ Tu); những gian nan, rủi ro tử nạn vì bệnh tật, chướng khí trên đường đi sứ (như cái chết của Trương Dĩ Ninh, Lưu Giản Đích, Tôn Trác); và các nhiệm vụ trọng tâm của sứ đoàn (sách phong, điếu viếng, tuyên bố hoàng đế mới lên ngôi, chiêu dụ sang chầu, xin đường, cứu hộ, thương lượng biên giới).

Chương 3: Tình hình lưu trữ, diện mạo văn bản, nội dung của thơ đi sứ

Chương 3 khảo sát thực trạng lưu trữ văn bản. Luận án xác định và khai thác 6 bộ Sứ Giao thi hoàn chỉnh:

  1. Giao Châu cảo của sứ thần nhà Nguyên Trần Phu (1292-1293).
  2. Sứ Giao cảo của sứ thần nhà Minh Lỗ Đạc.
  3. Vạn lý chí của sứ thần nhà Minh Trương Hoằng Chí.
  4. Giao hành trích cảo của sứ thần nhà Nam Minh Từ Phu Viễn (1651).
  5. Sứ Giao tập của sứ thần nhà Thanh Ngô Quang.
  6. Sứ Giao ngâm và Sứ Giao kỷ sự của sứ thần nhà Thanh Chu Xán (1689).

Cùng các thi văn tập có liên quan: Phó Dữ Lệ thi văn tập, Thiên Nam hành kỷ (Từ Minh Thiện), Thúy Bình thi tập (Trương Dĩ Ninh), Văn Giản tập (Tôn Thừa Ân), Vinh tiến tập (Ngô Bá Tông), Cam Tuyền văn tập (Trạm Nhược Thủy), Trúc giản tập (Phan Hy Tăng), Lâm Đăng Châu tập (Lâm Đường Thần), Chất Am Chương Công thi văn tập (Chương Sưởng), Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập, An Nam sứ sự kỷ yếu (Lý Tiên Căn).

Nội dung thơ đi sứ được luận án phân tích qua 4 chủ đề:

  • Chủ đề chính trị, ngoại giao: Phản ánh các nghi lễ triều đình, tuyên đọc chiếu thư, đón rước phụng nghênh, tiệc yến và thái độ chính trị của sứ thần.
  • Chủ đề sứ trình và hoạt động trên đường đi: Ghi chép lộ trình muôn dặm, vượt ải Nam Quan, sông Hồng, chèo đò vượt thác, đối mặt với lam chướng và điều kiện tự nhiên khắc nghiệt miền nhiệt đới.
  • Chủ đề cảnh vật mới lạ và cuộc sống người dân: Miêu tả cảnh quan thiên nhiên, sinh hoạt văn hóa, phong tục tập quán (như bài An Nam tức sự của Trần Phu phản ánh trang phục, thuế khóa, âm nhạc, luật lệ thời Trần).
  • Chủ đề nhớ quê nhớ nhà: Bộc lộ tâm trạng tha hương, nỗi nhớ gia đình, quê hương khi thực hiện nhiệm vụ ở phương Nam xa xôi.

Về cảm hứng chủ đạo, thơ đi sứ thể hiện sự đan xen giữa Ý thức dân tộc (tự hào về văn hóa Trung Nguyên) và Ý thức trách nhiệm của sứ thần (tận tụy hoàn thành mệnh lệnh hoàng đế, giữ gìn thể diện quốc gia và thúc đẩy hòa hiếu).

Chương 4: Thể loại và đặc điểm của thơ đi sứ

Chương 4 tập trung phân tích thi pháp và hình thức thể loại:

  • Phân loại thể loại:
    • Theo cấu trúc hình thức: Bao gồm cổ thể, cận thể (thơ Đường luật: thất ngôn/ngũ ngôn tuyệt cú, bát cú, trường luật), phú, từ, ca khúc.
    • Theo tiêu chí nội dung: Thơ hành trình (ký sự), thơ thù tạc (xướng họa, tiễn tặng), thơ vịnh vật/phong thổ và thơ cảm hoài.
  • Bút pháp nghệ thuật: Xác định 4 bút pháp tiêu biểu:
    1. Tức cảnh sinh tình: Trực tiếp ghi nhận cảnh sắc trên đường đi để khơi gợi cảm xúc, tư tưởng.
    2. Thác vật ngôn chí: Mượn hình ảnh sự vật cụ thể để gửi gắm chí hướng chính trị và khí tiết của sứ thần.
    3. Tức cổ nghiệm kim: Khai thác các sự kiện, điển tích lịch sử xưa để chiêm nghiệm, đối chiếu với thực tại bang giao đương thời.
    4. Tức sự thư hoài: Nhân những sự việc, biến cố cụ thể trong chuyến công cán để bộc lộ nỗi lòng, tâm tư cá nhân.
  • Đặc điểm nghệ thuật nổi bật:
    • Mang đậm tính ký sự: Ghi chép trung thực, chi tiết người thật, việc thật, địa danh và thời gian trên sứ trình.
    • Kết hợp tự sự với trữ tình: Cốt truyện nhật ký hành trình hòa quyện cùng cảm xúc cá nhân.
    • Tính lưu động, di chuyển: Không gian nghệ thuật vận động liên tục theo từng trạm dịch, cung đường.
    • Tính chất ứng tác: Nhiều bài thơ xướng họa được làm nhanh tại chỗ, ít qua gọt giũa cầu kỳ, mang tính thô mộc, chân thực.
    • Ảnh hưởng của các bậc tiền bối: Sử dụng hệ thống thi liệu, thi pháp và điển cố của thi ca cổ điển đời Đường, Tống.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án tự xác định các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  • Về lý luận và khoa học:

    • Là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống đầu tiên về toàn bộ mảng thơ đi sứ của sứ thần Trung Quốc sang Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII dưới góc độ văn học kết hợp văn bản học và nghiên cứu liên ngành.
    • Góp phần hoàn thiện bức tranh toàn diện về mối quan hệ giao lưu văn học, văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc thời trung đại trong không gian văn hóa Đông Á.
  • Về thực tiễn và tư liệu:

    • Thẩm định, hiệu đính và đính chính quyền tác giả của một số bài thơ lịch sử bị nhầm lẫn:
      1. Xác định bài Đáp Thế tử vận thuộc về tác giả Văn Cự (thay vì Trí Hi Thiện như An Nam chí lược và Nguyên thi tuyển ghi nhận).
      2. Xác định bài Tống sứ ngâm thuộc về sứ thần nhà Nguyên Hoàng Thường (thay vì Mạc Ký như sách Thơ văn Lý - Trần ghi nhận).
      3. Phân tích văn bản và nêu căn cứ khoa học về tác giả bài Hỏi đáp về nước An Nam giữa Ngô Bá Tông và Hồ Quý Ly.
    • Phát hiện và khai thác các tư liệu thơ xướng họa bị thất lạc hoặc cấm lưu hành tại Trung Quốc nhưng được bảo tồn trong thư tịch Hán Nôm Việt Nam (như thơ xướng họa của hai sứ thần nhà Thanh là Đức Bảo và Cố Nhữ Tu với vua Lê Hiển Tông, Trần Danh Lâm, Nguyễn Xuân Huyên và Lê Quý Đôn trong Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục).
    • Bổ sung nhiều chi tiết lịch sử cụ thể về thời gian, nhân vật, hành trình tiếp sứ và sứ trình đồ mà chính sử hai nước chưa ghi chép chi tiết.
    • Tuyển dịch, chú giải học thuật khoảng 100 bài thơ đi sứ tiêu biểu, cung cấp nguồn tư liệu Hán văn và bản dịch tin cậy cho giới nghiên cứu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do biến cố lịch sử và chiến tranh qua nhiều thế kỷ, nhiều tập thơ đi sứ của các triều đại (nhất là thời Tống, Nguyên, Minh sơ) đã bị thất lạc; tác giả chỉ tiếp cận được 6 bộ Sứ Giao thi hoàn chỉnh cùng một số văn tập rải rác. Luận án mới chỉ chọn dịch khoảng 100 bài thơ tiêu biểu, chưa thể dịch toàn bộ các bài thơ còn tồn nghi trong thư tịch cổ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang thế kỷ XIX (giai đoạn triều Nguyễn và nhà Thanh từ năm 1802 đến năm 1885) với khung thể chế bang giao và bối cảnh lịch sử mới.
    • Dịch toàn bộ nội dung luận án sang tiếng Hán để công bố tại Trung Quốc nhằm thúc đẩy sự hiểu biết học thuật về văn học và lịch sử bang giao giữa hai nước.
    • Tiếp tục sưu tầm, khảo đính các văn bản Sứ Giao thi còn ẩn tàng trong các tùng thư, gia phả, địa phương chí chưa được khai thác.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên: Chuyên ngành Văn học Việt Nam, Văn học Trung Quốc, Hán Nôm, Lịch sử Việt Nam trung đại, Lịch sử quan hệ quốc tế và Đông Á học.
  • Nhà nghiên cứu văn hóa và ngoại giao: Tìm hiểu về văn hóa bang giao, nghệ thuật ứng đối ngoại giao và truyền thống tiếp sứ thời phong kiến.
  • Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu:
    • Hệ thống bảng biểu thống kê 120 sứ đoàn và sứ mệnh ngoại giao (Chương 2, Phụ lục I).
    • Khung khảo sát thi pháp, thể loại và bút pháp của thơ đi sứ (Chương 4).
    • Phần khảo luận văn bản học đính chính tác giả các bài thơ tồn nghi và tuyển tập 100 bài thơ dịch nghĩa có chú thích (Phụ lục II).

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát dựa trên những bộ Sứ Giao thi hoàn chỉnh nào của sứ thần Trung Quốc?
Luận án dựa trên 6 bộ Sứ Giao thi nguyên vẹn: Giao Châu cảo của Trần Phu (nhà Nguyên), Sứ Giao cảo của Lỗ Đạc (nhà Minh), Vạn lý chí của Trương Hoằng Chí (nhà Minh), Giao hành trích cảo của Từ Phu Viễn (nhà Nam Minh), Sứ Giao tập của Ngô Quang (nhà Thanh), Sứ Giao ngâm và Sứ Giao kỷ sự của Chu Xán (nhà Thanh); cùng nhiều thi văn tập liên quan khác (Thúy Bình thi tập, Cam Tuyền văn tập, Lâm Đăng Châu tập...).

2. Tổng số sứ đoàn Trung Quốc sang Việt Nam từ thế kỷ X đến thế kỷ XVIII được luận án thống kê là bao nhiêu?
Dựa trên nguồn sử liệu chính thức của hai nước, luận án thống kê có ít nhất 120 sứ đoàn Trung Quốc đã sang Việt Nam từ năm 973 đến năm 1793, bao gồm: 25 sứ đoàn thời Tống, 27 sứ đoàn thời Nguyên, 56 sứ đoàn thời Minh và 12 sứ đoàn thời Thanh.

3. Luận án đã hiệu đính và xác định lại tác giả của những bài thơ nào?
Luận án đã khảo luận và đính chính 3 bài thơ: xác định bài Đáp Thế tử vận thuộc về Văn Cự (thay vì Trí Hi Thiện); bài Tống sứ ngâm thuộc về sứ thần Hoàng Thường (thay vì Mạc Ký); đồng thời phân tích văn bản để làm rõ tác giả bài Hỏi đáp về nước An Nam giữa Ngô Bá Tông và Hồ Quý Ly.

4. Bút pháp nghệ thuật chủ đạo trong thơ đi sứ gồm những loại nào?
Luận án xác định 4 bút pháp nghệ thuật tiêu biểu: Tức cảnh sinh tình (trước cảnh sinh cảm xúc), Thác vật ngôn chí (mượn vật gửi chí hướng), Tức cổ nghiệm kim (mượn tích xưa soi việc nay) và Tức sự thư hoài (nhân việc cụ thể bộc lộ tâm tư).

5. Tại sao thơ của hai sứ thần Đức Bảo và Cố Nhữ Tu bị cấm ở Trung Quốc nhưng lại tìm thấy tại Việt Nam?
Năm 1761, hai sứ thần nhà Thanh là Đức Bảo và Cố Nhữ Tu sang sứ Việt Nam, sau khi về nước đã tự ý viết thư chỉ trích vua Lê tiếp đón không chu đáo nên bị vua Càn Long xử phạt (Cố Nhữ Tu bị cách chức, Đức Bảo bị giáng ba cấp) và cấm lưu hành tác phẩm. Tuy nhiên, hơn 70 bài thơ xướng họa giữa hai ông với vua Lê Hiển Tông, đại thần Trần Danh Lâm, Nguyễn Xuân Huyên và các sứ thần Việt Nam như Lê Quý Đôn, Trần Huy Mật vẫn được ghi chép, bảo tồn trong các văn tịch Hán Nôm Việt Nam như Nhâm Tuất khóa sứ trình thi tập, Kiến văn tiểu lục, Bắc sứ thông lục và Quế Đường thi tập.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thơ đi sứ của sứ thần Trung Quốc đến Việt Nam từ thế kỷ X - XVIII" của tác giả Lý Na là công trình chuyên khảo đầu tiên tiếp cận toàn diện mảng thơ Sứ Giao dưới góc độ văn học kết hợp văn bản học và liên ngành lịch sử - văn hóa. Luận án đã làm rõ diện mạo văn bản, 4 chủ đề nội dung, 4 bút pháp nghệ thuật và các đặc trưng thi pháp của thơ đi sứ, đồng thời làm sáng tỏ hoạt động xướng họa, bang giao giữa sứ thần Trung Quốc và triều đình Đại Việt. Những phát hiện đính chính văn bản tác giả, phục dựng cứ liệu lịch sử và tuyển dịch 100 bài thơ tiêu biểu là đóng góp học thuật thực tiễn cho nghiên cứu văn học trung đại và lịch sử quan hệ Việt - Trung.