Nghiên Cứu Về Thơ Đi Sứ Của Sứ Thần Trung Quốc Đến Việt Nam Từ Thế Kỷ 18

Luận án tiến sĩ nghiên cứu thơ đi sứ của sứ thần trung quốc đến việt nam từ thế kỷ x xviii, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng dụng trong lĩnh vực tại Việt Nam.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2016

267
7
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Lý do chọn đề tài

1.2. Đối tượng nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu và tư liệu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Đóng góp khoa học của Luận án

1.6. Bố cục của Luận án. Quy ước trình bày Luận án

2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ Ở MỘT SỐ NƯỚC THUỘC VÙNG VĂN HÓA HÁN

2.1. NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA SỨ THẦN VIỆT NAM TỚI TRUNG QUỐC

2.1.1. Sưu tập danh sách sứ thần hoặc văn bản

2.1.2. Dịch thuật, giới thiệu công bố

2.1.3. Nghiên cứu từ các góc độ

2.2. NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA SỨ THẦN TRUNG QUỐC TỚI VIỆT NAM

2.2.1. Nghiên cứu của học giả Việt Nam

2.2.2. Nghiên cứu của học giả Trung Quốc

2.3. Đánh giá chung về kết quả nghiên cứu đã triển khai trước đây

2.4. ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN ÁN

2.5. Tiểu kết chương 1

3. SỨ THẦN TRUNG QUỐC ĐẾN VIỆT NAM, LƯỢC SỬ THÔNG SỨ VÀ GIAO LƯU VĂN HÓA

3.1. LƯỢC SỬ SỰ HÌNH THÀNH MỐI QUAN HỆ THÔNG SỨ

3.1.1. Nhìn lại quan hệ Trung - Việt trước thế kỷ X

3.1.2. Sự hình thành mối quan hệ thông sứ

3.2. GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ SỨ ĐOÀN

3.2.1. Thống kê số sứ đoàn Trung Quốc đã sang Việt Nam

3.2.2. Thưởng phạt đối với sứ thần

3.3. NHIỆM VỤ CỦA SỨ ĐOÀN TRUNG QUỐC

3.4. ĐÁNH GIÁ VỀ TÁC ĐỘNG, HIỆU QUẢ CỦA CÔNG VIỆC THÔNG SỨ

3.5. Tiểu kết chương 2

4. TÌNH HÌNH LƯU TRỮ, DIỆN MẠO VĂN BẢN, NỘI DUNG CỦA THƠ ĐI SỨ

4.1. TÌNH HÌNH, DIỆN MẠO CÁC VĂN BẢN

4.1.1. Tình hình lưu trữ của Sứ Giao tập các triều

4.1.2. Diện mạo các văn bản TĐS

4.1.3. Thống kê tác giả, tác phẩm đi sứ được lưu trữ

4.2. NỘI DUNG CỦA THƠ ĐI SỨ

4.2.1. Chủ đề về chính trị, ngoại giao

4.2.2. Chủ đề về sứ trình cũng như hoạt động trên sứ trình

4.2.3. Chủ đề về cảnh vật mới lạ và cuộc sống người dân

4.2.4. Chủ đề về nhớ quê nhớ nhà

4.2.5. Cảm hứng chủ đạo. Ý thức dân tộc

4.2.6. Ý thức trách nhiệm của sứ thần

4.3. Tiểu kết chương 3

5. THỂ LOẠI VÀ ĐẶC ĐIỂM CỦA THƠ ĐI SỨ

5.1. THỂ LOẠI CỦA THƠ ĐI SỨ

5.1.1. Chia theo cấu trúc hình thức

5.1.2. Chia theo tiêu chí nội dung

5.2. BÚT PHÁP NGHỆ THUẬT CỦA THƠ ĐI SỨ

5.2.1. Tức cảnh sinh tình

5.2.2. Thác vật ngôn chí

5.2.3. Tức cổ nghiệm kim

5.2.4. Tức sự thư hoài

5.3. ĐẶC ĐIỂM THƠ ĐI SỨ

5.3.1. Mang đậm tính ký sự

5.3.2. Tự sự kết hợp với trữ tình

5.3.3. Mang tính lưu động di chuyển

5.3.4. Không qua nhiều trau chuốt

5.3.5. Chịu sự ảnh hưởng của các bậc tiền bối

5.4. Tiểu kết chương 4

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phụ lục I: CÁC BẢNG BIỂU VỀ SỨ ĐOÀN VÀ TĐS

Phụ lục II: TUYỂN DỊCH MỘT SỐ BÀI TĐS VÀ TXH

Phụ lục III: DANH MỤC NHAN ĐỀ CÁC BÀI TĐS CỦA SỨ THẦN TRUNG QUỐC

Phụ lục IV: CÁC BẢN SỨ TRÌNH ĐỒ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về thơ đi sứ

Thơ đi sứ, hay thơ đi sứ (TĐS), là một thể loại văn học đặc biệt của các sứ thần Trung Quốc trong quá trình giao lưu văn hóa với Việt Nam thế kỷ 18. Tác phẩm này không chỉ phản ánh những trải nghiệm cá nhân của sứ thần mà còn ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng. Trong bối cảnh giao lưu văn hóa, thơ đi sứ thể hiện sự kết nối giữa hai nền văn hóa, đồng thời là một phần không thể thiếu trong văn học Trung Quốcvăn học Việt Nam. Các bài thơ này thường được sáng tác trong các chuyến đi sứ, thể hiện tâm tư, tình cảm của sứ thần đối với quê hương, đất nước và con người nơi họ đến. Đặc biệt, thơ đi sứ còn mang tính chất hành trình đi sứ, ghi lại những cảm xúc và suy nghĩ của sứ thần trong suốt quá trình thực hiện nhiệm vụ ngoại giao.

1.1. Đặc điểm của thơ đi sứ

Thơ đi sứ thường mang đậm tính ký sự, kết hợp giữa tự sự và trữ tình. Các bài thơ không chỉ đơn thuần là những tác phẩm nghệ thuật mà còn là những tài liệu lịch sử quý giá. Chúng phản ánh tình hình chính trị, quan hệ Việt Trung và những cảm xúc của sứ thần trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Nội dung thơ đi sứ thường xoay quanh các chủ đề như chính trị, ngoại giao, và cảnh vật mới lạ. Đặc biệt, cảm hứng chủ đạo trong thơ đi sứ là ý thức dân tộctrách nhiệm của sứ thần. Những bài thơ này không chỉ là sản phẩm của cá nhân mà còn là kết quả của một quá trình giao lưu văn hóa sâu sắc giữa hai quốc gia.

II. Tình hình lưu trữ và nội dung của thơ đi sứ

Tình hình lưu trữ các tác phẩm thơ đi sứ của sứ thần Trung Quốc tại Việt Nam thế kỷ 18 rất phong phú. Các tác phẩm này thường được ghi chép trong các văn bản như Sứ Giao tậpSứ Hoa tập. Nội dung của thơ đi sứ không chỉ dừng lại ở việc ghi lại những trải nghiệm cá nhân mà còn phản ánh di sản văn hóanghệ thuật thơ ca của thời kỳ đó. Các bài thơ thường có chủ đề về chính trị, ngoại giao, và cuộc sống người dân. Đặc biệt, những bài thơ này còn thể hiện sự ảnh hưởng văn hóa từ cả hai phía, tạo nên một bức tranh đa dạng về mối quan hệ giữa hai quốc gia. Việc nghiên cứu và phân tích các tác phẩm này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử Việt Nam mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn hóa giao tiếp giữa hai nền văn minh.

2.1. Nội dung chủ đề của thơ đi sứ

Nội dung thơ đi sứ thường xoay quanh các chủ đề chính trị, ngoại giao và những trải nghiệm cá nhân của sứ thần. Các bài thơ không chỉ đơn thuần là những tác phẩm nghệ thuật mà còn là những tài liệu lịch sử quý giá. Chúng phản ánh tình hình chính trị, quan hệ Việt Trung và những cảm xúc của sứ thần trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Đặc biệt, cảm hứng chủ đạo trong thơ đi sứ là ý thức dân tộctrách nhiệm của sứ thần. Những bài thơ này không chỉ là sản phẩm của cá nhân mà còn là kết quả của một quá trình giao lưu văn hóa sâu sắc giữa hai quốc gia.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn của thơ đi sứ

Thơ đi sứ không chỉ có giá trị văn học mà còn mang lại nhiều ứng dụng thực tiễn trong việc nghiên cứu lịch sửvăn hóa. Các tác phẩm này giúp các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về quan hệ Việt Trung trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Ngoài ra, thơ đi sứ còn là nguồn tư liệu quý giá cho việc nghiên cứu nghệ thuật thơ cavăn hóa giao tiếp giữa hai nền văn minh. Việc phân tích các tác phẩm này có thể giúp làm sáng tỏ những khía cạnh chưa được khám phá trong lịch sử văn họcvăn hóa giao lưu. Hơn nữa, thơ đi sứ còn có thể được sử dụng trong giảng dạy văn học, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về truyền thống văn họcnghệ thuật thơ ca của hai quốc gia.

3.1. Ứng dụng trong nghiên cứu văn học

Thơ đi sứ có thể được sử dụng như một công cụ nghiên cứu trong việc phân tích văn học Việt Namvăn học Trung Quốc. Các tác phẩm này không chỉ phản ánh những trải nghiệm cá nhân của sứ thần mà còn ghi lại những sự kiện lịch sử quan trọng. Việc nghiên cứu thơ đi sứ giúp mở rộng tầm nhìn về văn hóa giao tiếpnghệ thuật thơ ca của thời kỳ đó. Hơn nữa, các bài thơ này còn có thể được sử dụng trong giảng dạy văn học, giúp sinh viên hiểu rõ hơn về truyền thống văn họcnghệ thuật thơ ca của hai quốc gia.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần Mở đầu và Kết luận ra, Luận án gồm 4 chƣơng: + Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. + Chƣơng 2: Sứ thần Trung Quốc đến Việt Nam, lƣợc sử thông sứ và giao lƣu văn hóa. + Chƣơng 3: Tình hình lƣu trữ, diện mạo văn bản, nội dung của thơ đi sứ. + Chƣơng 4: Thể loại và đặc điểm của thơ đi sứ.

Cùng với các nội dung trên, ở cuối Luận án, chúng tôi đƣa thêm phần Phụ lục để bổ sung đầy đủ chi tiết những vấn đề về tác giả và văn bản tác phẩm TĐS. Quy ƣớc trình bày Luận án Luận án của chúng tôi trình bày theo những quy định chung của Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Cụ thể: + Viết hoa toàn bộ: nhân danh, địa danh, quốc hiệu. + Viết hoa chữ cái đầu: tên thời đại (Xuân thu, Chiến quốc), tên tác phẩm, tên một đơn vị tổ chức (Thƣ viện Đại học Bắc Kinh, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) + In nghiêng: tên tác phẩm (An Nam chí lược, Nam Giao hảo âm) + Chú thích: nếu trích dẫn tƣ liệu thì mở ngoặc vuông [.]; trong đó chữ số đầu là số thứ tự tƣ liệu đƣợc trích, chữ số sau là số trang.

+ Những bài thơ đƣợc chọn dịch, đã xuất hiện trong chính văn thì không đƣa vào Phụ lục nữa, đƣợc chọn dịch ở Phụ lục thì chính văn không lặp lại nữa. 13 z Chƣơng 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu Sứ thần là nhà ngoại giao đặc biệt trong thời phong kiến, đa số là những văn quan xuất sắc đã để lại các loại tác phẩm văn chƣơng đi sứ, nên đề tài nghiên cứu về tác phẩm của họ cũng đã nhận đƣợc sự quan tâm ở các mức độ khác nhau của học giả các nƣớc. Nhằm điểm lại những kết quả nghiên cứu đã đạt đƣợc của học giả đi trƣớc và chỉ ra hƣớng nghiên cứu của Luận án, dƣới đây chúng tôi xin tổng thuật tình hình nghiên cứu đối tƣợng. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ Ở MỘT SỐ NƢỚC THUỘC VÙNG VĂN HÓA HÁN Hiện nay, đã có học giả của các nƣớc nhƣ Trung Quốc, Hàn Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam, Mỹ và khu vực Đài Loan - Trung Quốc, v.

tham gia vào lĩnh vực nghiên cứu đề tài TĐS. Tuy nhiên, đại đa số học giả nghiên cứu theo hƣớng từ các nƣớc lân cận vào Trung Quốc, gọi là Yên hành, nhƣ giữa Trung Quốc với bán đảo Triều Tiên, Việt Nam, Nhật Bản, Lƣu Cầu chẳng hạn. Công trình nghiên cứu về TĐS Trung Quốc của sứ thần bán đảo Triều Tiên và TĐS bán đảo Triều Tiên của sứ thần Trung Quốc nhiều nhất, sau đó đến các công trình nghiên cứu về TĐS Trung Quốc của sứ thần Việt Nam và sứ thần Nhật Bản. Công trình nghiên cứu về TĐS Việt Nam của sứ thần Trung Quốc chỉ mới bắt đầu.

Chúng tôi xin điểm qua đôi chút về TĐS giữa Trung Quốc – bán đảo Triều Tiên. Về TĐS của sứ thần Trung Quốc đến bán đảo Triều Tiên, từ thời nhà Minh trở đi, các quyển Hoàng hoa tập ghi chép TĐS và TXH giữa sứ thần Trung Quốc và sĩ phu Triều Tiên sau khi hoạt động đi sứ kết thúc thƣờng đƣợc in ấn phát hành, nên đƣợc lƣu trữ tƣơng đối trọn vẹn. Theo thống kê, hiện nay còn lƣu trữ khoảng hơn 20 loại Hoàng hoa tập, đó là những tƣ liệu quý báu để nghiên cứu mối quan hệ giữa Trung Quốc và bán đảo Triều Tiên. Năm 2001, Hàn Quốc đã tập hợp các quyển Yên 14 z Hành lục của sứ thần bán đảo Triều Tiên từng đi sứ Trung Quốc còn để lại thành một bộ Yên hành lục toàn tập gồm 100 quyển [166].

Có lẽ vì có tƣ liệu đầy đủ và thuận tiện nhƣ thế, nên nhiều học giả ở miền Đông Bắc Trung Quốc giáp giới với Triều Tiên, cộng với học giả Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản đã triển khai hàng loạt nghiên cứu về TĐS cũng nhƣ mối quan hệ thông sứ giữa hai nƣớc này. Học giả Trung Quốc Điêu Thƣ Nhân và Sử Quế Vinh đã tổng kết lại tình hình nghiên cứu này trong bài báo khoa học Tổng quát về những kết quả nghiên cứu về quan hệ Trung - Triều thời cổ của các nước Hàn Quốc, Triều Tiên và Nhật Bản trong thế kỷ XX [133]. Các công trình luận án tiến sĩ, thạc sĩ và bài báo khoa học nhƣ Nghiên cứu Hoàng hoa tập và sự giao lưu giữa Trung Quốc - Triều Tiên [130], Xung quanh địa danh trong Hoàng hoa tập để tìm hiểu lộ trình của sứ thần [131], Về quan hệ sứ thần đi lại giữa Trung - Triều thời nhà Minh [132], v. của học giả Trung Quốc Đại lục cũng lần lƣợt đƣợc triển khai.

Học giả Đài Loan Liêu Triệu Hanh cũng nghiên cứu chuyến đi của sứ thần nhà Minh Chu Chi Phan sang sứ Triều Tiên [134]. Giữa hai nƣớc Trung - Nhật, giao lƣu văn hóa và văn học trong thời thịnh Đƣờng rất chặt chẽ và nổi tiếng, nên kết quả nghiên cứu về TĐS trong thời kỳ này tƣơng đối nhiều, bài Bàn về việc giao lưu thi ca giữa Trung – Nhật trong thời Đường [162] chẳng hạn. Về thời Tống, Minh thì hay nghiên cứu về quan hệ thƣơng mại, cơ chế cử và tiếp sứ thần [163]. Về thời Nguyên, Thanh, học giả hay nghiên cứu về sự ảnh hƣởng của tƣ tƣởng Trọng Hán khinh di (重漢輕夷) của Nhật Bản đối với quan hệ bang giao hai nƣớc [164], v.

NGHIÊN CỨU THƠ ĐI SỨ CỦA SỨ THẦN VIỆT NAM TỚI TRUNG QUỐC Kết quả nghiên cứu về TĐS của sứ thần Việt Nam tới Trung Quốc đến nay đã nhận đƣợc sự đóng góp của học giả Việt Nam, Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ và khu vực Đài Loan - Trung Quốc. Việt Nam hiện còn lƣu trữ đƣợc khá nhiều tác phẩm đi 15 z sứ của sứ thần Việt Nam tới Trung Quốc tại VNCHN Hà Nội. Năm 2010, VNCHN và Trƣờng Đại học Phúc Đán (Thƣợng Hải - Trung Quốc) đã hợp tác tiến hành vựng tập những tác phẩm đi sứ thành bộ sách Việt Nam Hán văn Yên hành văn hiến tập thành gồm 25 quyển, bắt đầu từ tác phẩm của sứ thần nhà Trần là Nguyễn Trung Ngạn đến sứ thần nhà Nguyễn là Nguyễn Thuật, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp cho việc nghiên cứu TĐS của sứ thần Việt Nam tới Trung Quốc đƣợc triển khai dễ dàng hơn. Về những kết quả nghiên cứu thuộc lĩnh vực này, chúng tôi xin liệt kê một vài công trình và bài báo khoa học nổi bật nhƣ sau: 1.

Sƣu tập danh sách sứ thần hoặc văn bản Nhóm biên soạn Nguyễn Thị Thảo, Phạm Văn Thắm và Nguyễn Kim Oanh của VNCHN có công trình Sứ thần Việt Nam (1996) [20], giới thiệu truyện ký của 117 sứ thần, danh sách của 463 sứ thần khác, cùng với danh sách của 220 sứ bộ, gồm cả sứ bộ Việt Nam đi sứ Trung Quốc và sứ bộ Trung Quốc sang Việt Nam. Công trình Chuyện đi sứ tiếp sứ thời xưa (2001) [14] của Nguyễn Thế Long, đã thống kê các triều đại phong kiến Việt Nam từng có tới gần 300 sứ đoàn và hàng ngàn ngƣời đỗ đạt đƣợc đảm nhận công việc đi sứ và tiếp sứ; đồng thời nêu một số tấm gƣơng tiêu biểu liên quan đến đi sứ và tiếp sứ của Việt Nam. Nguyễn Thanh Tùng có bài Vài nét về tình hình văn bản Hoàng Hoa sứ trình đồ bản của Nguyễn Huy Oánh [23], giới thiệu về cuốn ―sứ trình đồ‖ sớm nhất hiện còn, v. Dịch thuật, giới thiệu công bố Nhóm biên soạn Phạm Thiều, Đào Phƣơng Bình của VNCHN có công trình Thơ đi sứ (1993) [22], giới thiệu, phiên âm và dịch nghĩa thơ Hán cổ của sứ thần Việt Nam sáng tác trong khi đi sứ, và một số ít thơ tặng tiễn hoặc đối đáp với sứ giả nƣớc ngoài đến Việt Nam, chủ yếu là với sứ thần Trung Quốc đến Việt Nam.

Viện Văn học có quyển Bản dịch TĐS của sứ thần Việt Nam [27], phiên âm và dịch nghĩa TĐS viết bằng chữ Hán chữ Nôm của sứ thần Việt Nam. Phạm Thị Ngọc Anh có luận văn Thạc sĩ với đề tài là Tìm hiểu về thơ đi sứ 16 z của các nhà thơ trung đại Việt Nam [1], giới thiệu về mảng thơ di sứ của nhiều sứ thần Việt Nam trong thời trung đại, v. Nghiên cứu từ các góc độ - Văn học Đi sâu phân tích TĐS của một vị sứ thần: có học giả chuyên khảo về các tác phẩm đi sứ Trung Quốc của sứ thần nhà Trần là Nguyễn Trung Ngạn, sứ thần nhà Lê là Phùng Khắc Khoan và Lê Quý Đôn, sứ thần nhà Nguyễn là Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Du và Nguyễn Văn Siêu. Chẳng hạn Nguyễn Thị Thanh Chung có bài Chân dung tinh thần Nguyễn Văn Siêu trong Phương Đình Vạn lí tập (2011) [4]; Nguyễn Công Lý có bài Diện mạo thơ sứ trình trung đại Việt Nam và thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn [16], để giới thiệu tổng thể thơ sứ trình của sứ thần Việt Nam, đặc biệt giới thiệu về thơ đi sứ của Nguyễn Trung Ngạn, sứ thần nhà Trần; Đỗ Thị Thu Thủy có luận án với đề tài là Thơ đi sứ Việt Nam từ cuối triều Lê đến đầu triều Nguyễn (1740-1820) đƣợc thông qua bảo vệ ở Trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội vào tháng 8 năm 2015.

Mấy năm gần đây ở Trung Quốc, kết quả nghiên cứu về sứ thần Việt Nam đi sứ Trung Quốc cũng nhiều dần, thậm chí có cả luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và sau tiến sĩ chuyên khảo về vấn đề này. Chẳng hạn, học giả Trung Quốc Lƣu Ngọc Quần đã có bài báo khoa học với nhan đề là Sứ thần Việt Nam và sự giao lưu văn học giữa Trung Quốc - Việt Nam [145], giới thiệu các hoạt động văn học của sứ thần Việt Nam đi sứ Trung Quốc đã đóng góp đáng kể vào việc giao lƣu văn học giữa hai nƣớc; Trƣơng Ân Luyện của Đại học Ký Nam Trung Quốc có luận văn thạc sĩ với đề tài là Nghiên cứu về sứ thần Phùng Khắc Khoan và Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập [147], khảo cứu chuyến sang sứ nhà Minh của Phùng Khắc Khoan và tìm hiểu văn bản cũng nhƣ nội dung của Mai Lĩnh sứ Hoa thi tập, phản ánh tài ngoại giao và tài văn thơ của Phùng Khắc Khoan. Chúng tôi cũng có bài Tìm hiểu TXH giữa sứ thần Việt Nam với quan chức hộ tống sứ đoàn của nhà Thanh vào năm 1849, phân tích chuyến đi sứ Trung Quốc của sứ đoàn Phan Tĩnh, Mai Đức Thƣờng 17 z và Nguyên Văn Siêu, phân tích TXH giữa họ với quan chức hộ tống sứ đoàn đƣợc nhà Thanh cử là Ha Vấn Mai, Vƣơng Thạch Nguyên và Giả Trăn. - Lịch sử, ngoại giao Học giả Mỹ Liam C.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Nghiên Cứu Về Thơ Đi Sứ Của Sứ Thần Trung Quốc Đến Việt Nam Từ Thế Kỷ 18" của tác giả Lý Na, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Kim Sơn, tập trung vào việc phân tích và khám phá những tác phẩm thơ ca của các sứ thần Trung Quốc trong bối cảnh văn học Việt Nam thế kỷ 18. Bài viết không chỉ làm rõ những ảnh hưởng văn hóa, nghệ thuật mà còn chỉ ra sự giao thoa giữa hai nền văn hóa, từ đó giúp người đọc hiểu sâu hơn về mối quan hệ lịch sử và văn hóa giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Để mở rộng thêm kiến thức về lĩnh vực văn học, bạn có thể tham khảo bài viết Giáo Trình Lí Luận Văn Học: Tác Phẩm Văn Học Đặc Sắc, nơi cung cấp cái nhìn tổng quát về các tác phẩm văn học nổi bật, hoặc bài viết Tư tưởng lý luận phê bình văn học của Kim Thánh Thán và sự tiếp nhận tại Việt Nam, giúp bạn hiểu thêm về các lý thuyết phê bình văn học có liên quan. Cuối cùng, bài viết Văn hóa tâm linh trong Truyện Kiều và Văn Chiêu Hồn của Nguyễn Du cũng sẽ mang đến cho bạn cái nhìn sâu sắc về văn hóa và nghệ thuật trong văn học Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị trong văn học.