CHƯƠNG 1: LẬP LUẬN KINH TẾ 1. Tiềm năng của thị trường chocolate Ca cao là một ngành công nghiệp non trẻ và đang phát triển tại Việt Nam. Ở Việt Nam cây ca cao được trồng chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam Bộ, Tây Nguyên và một số tỉnh thuộc duyên hải Nam Trung Bộ. Chính vì lợi thế trồng được ca cao với sản lượng và chất lượng vượt trội đã tạo ra lợi thế cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Dù đã du nhập vào nước ta từ lâu, nhưng những năm gần đây mới thực sự được sự chú ý tập trung vào đầu tư và phát triển. Chính vì vậy mà hiện nay, sản phẩm chocolate nước ta được sản xuất từ hạt ca cao Việt Nam được quốc tế đánh giá cao và đã đạt được giải thưởng trên thế giới (như sản phẩm của Công ty Marou, Công ty Stone Hill). Nước ta hiện đang đứng thứ 23 những nước có sản phẩm ca cao đạt hương vị tốt, trở thành quốc gia châu Á thứ hai đạt danh hiệu này sau Indonesia, nhưng lại có đến 40% sản lượng ca cao được công nhận trong khi Indonesia chỉ có tỷ lệ 1% (Sonia Gregor, 2017). Tại hội nghị để xây dựng thương hiệu ca cao Việt Nam độc đáo trên thị trường thế giới diễn ra chiều ngày 18/11, ông Paul Jansen-Đại sứ Bỉ tại Việt Nam khẳng định: Bỉ là quốc gia dẫn đầu thế giới về năng lực sản xuất cũng như chất lượng của chocolate và ca cao chính là nguyên liệu quan trọng nhất.
Trong khi đó, Việt Nam lại sở hữu một loại ca cao rất độc đáo, có hương vị trái cây và chua nhẹ rất khó tìm. Hiện nay, ngành công nghiệp chocolate đang tiêu thụ hơn 4 triệu tấn hạt ca cao từ khắp nơi trên thế giới, với mức tiêu thụ chocolate tăng trung bình là 5. Nếu các thị trường lớn như EU và Mỹ áp đặt các quy định chặt chẽ hơn, cánh cửa cho các quốc gia có chuỗi cung ứng bền vững sẽ được mở rộng. Nhu cầu về nguồn ca cao bền vững đang tăng mạnh và Việt Nam có thể đáp ứng trong khi các nước khác phải chật vật để tuân thủ.
Chocolate thật sự đã trở thành sản phẩm được ưa chuộng nhờ vào lợi ích mà nó đem lại. Thành phần chính của chocolate là ca cao một loại cây có nguồn gốc ở Trung Mỹ và Mexico, được những người Aztec và Maya bản xứ khám phá. Nó thích hợp với các vùng nhiệt đới nên nó được trồng nhiều ở Tây-Nam Mĩ, Tây Phi và Đông Nam Á. Hiện nay, khi sự phổ biến của chocolate ngày càng tăng, việc sản xuất lan rộng trên toàn thế giới để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.
Với nguồn nguyên liệu phong phú từ những hạt ca cao trồng chính ở vùng châu thổ sông Mekong. Chính sự tăng trưởng mạnh về các đặc điểm nổi 3 bật của ca cao mà tiềm năng về tương lai của sản phẩm chocolate của Việt Nam lại được đón nhận. Năm 2021 là một năm đầy biến động với thế giới nói chung. Khi làn sóng COVID-19 tràn vào các lục địa đã mang đến những tổn thất không nhỏ về con người lẫn nền kinh tế thị trường.
Trong đó, thị trường ca cao và chocolate cũng khó tránh khỏi. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, khi vaccine được đưa vào áp dụng cho tất cả các quốc gia để tiêm chủng cùng với tiêu chí “sống chung với dịch” như hiện nay để khôi phục nền kinh tế thì nhu cầu về các sản phẩm thực phẩm tăng mạnh, trong đó có chocolate đã tăng tưởng trở lại. Thế mạnh về giá và hệ thống phân phối Hiện nay giá chocolate ngoại nhập trên thị trường dao động từ 150. Tuy nhiên khi so với chocolate Việt Nam thì có mức giá dao động từ 60.
Tuy mức giá chocolate nước ta có phần rẻ hơn nhưng so sánh về chất lượng chocolate Việt Nam vẫn đảm bảo được độ thơm ngon, an toàn không thua kém với các thương hiệu nước ngoài. Chi phí về nguyên liệu: Hiện nay nước ta có ba vùng trồng ca cao chính là đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và vùng Đông Nam Bộ. Được trồng xen (với dừa, điều, cây ăn trái…) chứ không chuyên canh như ở các nước xuất khẩu lớn (Côte d'Ivoire, Ghana, Indonesia). Ở đồng bằng sông Cửu Long, được trồng nhiều ở Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Trà Vinh, Sóc Trăng.
Vùng Tây Nguyên được trồng tại các tỉnh Đắc Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng. Ở vùng Đông Nam Bộ, ca cao được trồng tập trung ở Bình Phước, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Đây sẽ là những nơi chuyên sản xuất và chế biến ca cao thành các sản phẩm khác nhau, đặc biệt là bột ca cao. Chính vì nhà máy được lựa chọn gần khu vực có nhiều nhà máy sản xuất bột ca cao.
Vì vậy, chi phí nguyên liệu chính cho việc sản xuất chocolate là bột ca cao được tiết kiệm tối đa chi phí. Cụ thể, khi mua giá sỉ tại các nhà máy sản xuất thì bột ca cao dao động chỉ từ 20. Tiết kiệm hơn rất nhiều lần với giá phân phối đến các thị trường lớn như Hồ Chí Minh, Cần Thơ,…là 95. Về hệ thống phân phối: Hiện nay, đại dịch Covid đã tác động không nhỏ đến hệ thống giao thông về phân phối hàng hóa.
Tuy nhiên, nước ta vẫn tạo điều kiện để thích ứng với bối cảnh đại dịch COVID-19 nhằm thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc bảo đảm sản xuất và lưu thông hàng 4 hóa an toàn trong nội bộ tỉnh, thành phố, với các địa phương khác và phát động về việc triển khai chiến dịch tiêm chủng quốc gia phòng chống COVID-19. Với ưu thế nằm gần nguồn nguyên liệu là các nhà máy sản xuất chế biến ca cao, vì vậy ta có thể phân phối dễ dàng nhu cầu về nguyên liệu, tiết kiệm chi phí vận chuyển. Thậm chí chi phí còn rẻ hơn so với các khu vực khác. Bên cạnh giao thông đường bộ, nhà máy còn khai thác tối đa đường thủy.
Với hệ thống sông ngòi đặc trưng tại Đồng bằng Sông Cửu Long, ta có thể chủ động sắp xếp và tăng cường song song 2 hệ thống phân phối này. Vừa đáp ứng đủ nguyên vật liệu cho nhà máy sản xuất chocolate, vừa phân phối sản phẩm đến các thị trường cả trong và ngoài nước. Nguy cơ Đại dịch COVID-19 đã làm giảm nhu cầu tại các thị trường tiêu thụ chocolate chính là châu Âu và Mỹ. Tuy hai quốc gia siêu cường về xuất nhập khẩu thế giới giữa Mỹ - Trung Quốc đã xem xét "hạ nhiệt" căng thẳng thương mại.
Nhưng quá trình vẫn đang được đàm phán và chưa thống nhất. Chính diều này đã tác động không nhỏ đến tình hình kinh tế của thế giới trong đó có Việt Nam. Cạnh tranh về năng lực giữa các công ty: Hiện nay trên thị trường ngày càng có nhiều thương hiệu chocolate nổi tiếng phải kể đến như: Công Ty Cổ Phần Rượu Bia Dalat Baco; Công Ty TNHH Mtv Bánh Kẹo Pheva; Công Ty CP Sô Cô La Belcholat; Công Ty Tnhh Sản Xuất Chế Biến Socola Thành Công, sản phẩm chocolate của Bibica với dây chuyền sản xuất theo công nghệ và thiết bị của Anh. Đây là các công ty đã thành công trong lĩnh vực sản xuất chocolate và đang dần khẳng định thương hiệu trên thị trường cả trong và ngoài nước.
Không dừng ở đó, vừa qua Công Ty TNHH Thương mại – Dịch vụ - Sản xuất ca cao Thành Đạt xuất 2 tấn (15 loại sản phẩm) chocolate organic sang thị trường Nhật Bản. Điều này khẳng định chocolate Việt hoàn toàn có thể đáp ứng thị trường khó tính nhưng cũng là thách thức đối với các nhà máy trong nước. Rủi ro về chất lượng và niềm tin của người tiêu dùng: điều này đòi hỏi nhà máy phải thực hiện và kiểm soát từng chi tiết của công đoạn chế biến đến cả kiểm soát về việc phân phối sản phẩm từ nhà máy đến tay người tiêu dùng. Tránh các tình trạng làm giảm chất lượng của sản phẩm như: tính nguyên vẹn của sản phẩm, hiện tượng nở hoa chất béo, cân bằng kiểm soát 5 độ béo phù hợp với thị hiếu tiêu dùng người Việt Nam và thế giới,…Nếu không thực hiện tốt được điều này, doanh nghiệp có nguy cơ bị tẩy chay sản phẩm.
Nguồn vốn: tính toán kỹ lưỡng nguồn vốn cho việc sản xuất, tránh gây thiếu hụt hoặc lãng phí. Đầu tư có kế hoạch về các trang thiết bị, hệ thống máy móc, chi phí cho việc quảng cáo, thực hiện các chiến dịch Marketing,… Tránh tình trạng không có nguồn vốn dự phòng cho những trường hợp ngoài mong đợi và phát sinh. Luật pháp và chính sách của chính phủ: Ở Việt Nam, hiệu quả kinh tế của cây ca cao chưa thực sự hấp dẫn nông dân để họ yên tâm đầu tư chăm sóc và cây ca cao đang chịu sự cạnh tranh mạnh với các loại cây ăn quả có giá trị cao. Làm tiểm ẩn nguy cơ thiếu hụt nguồn nguyên liệu sản xuất.
Ngoài ra, phải thực hiện tất cả các thủ tục về giấy phép đăng ký kinh doanh, giấy chứng nhận cơ sở đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm, kết quả kiểm nghiệm cho từng sản phẩm, bản tự công bố sản phẩm, đóng thuế,… 1. Bối cảnh khoa học và công nghệ Bối cảnh: Kể từ khi cửa hàng bán chocolate đầu tiên khai trương năm 1657, tới đầu thế kỉ 18, những nhà máy sản xuất chocolate đầu tiên đã được thành lập (1728: ở Bistrol, nhà máy sản xuất chocolat đầu tiên ra đời với máy thuỷ lực). Năm 1730, giá ca cao giảm mạnh và máy móc được phát minh nhiều hơn đã tạo tiền đề cho 1 nền công nghiệp sản xuất chocolate với số lượng lớn và giá thành rẻ. Vào thế kỷ 19, chocolate rắn trở nên phổ biến do các kiểu khuôn đúc ngày càng đa dạng.
Chính vì vậy đã tạo nên các hình dạng khác nhau khi chocolate đã nguội lạnh. Năm 1875, lần đầu tiên chocolate được sản xuất với quy mô công nghiệp do nhà sản xuất Daniel Peter người Thụy Sỹ tìm ra công thức trộn bột ca cao, bơ ca cao, sữa bột, đường,…Công thức ngày càng được hoàn thiện qua nhiều lần thử nghiệm. Năm1879, Rodolphe Lindt phát minh ra máy nghiền ủ trộn, giúp tạo cấu trúc mịn cho chocolate, đồng nhất và mùi vị dễ chịu. Ngày nay, dây chuyền được thiết kế hiện đại, đạt tiêu chuẩn cao, đảm bảo hoạt động ổn định và an toàn trong quá trình sử dụng.
Toàn bộ quy trình sản xuất được thực hiện trong một quy trình khép kín, tự động hóa, đảm bảo tuân thủ hệ thống quản lí chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001, hệ thống kiểm soát vệ sinh thực phẩm HACCP 24/24 đến từng công đoạn.