CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Một số vấn đề về phát triển năng lực giải quyết vấn đề trong dạy học Toán ở Tiểu học 1. Năng lực Xu hướng chung của nhân tố mới và chương trình giáo dục phổ thông mới là chuyển từ dạy học theo định hướng nội dung sang dạy học phát triển năng lực người học. Để thực hiện chương trình và sách giáo khoa theo định hướng đó GV cần có những hiểu biết cơ bản về một số khái niệm năng lực và dạy và học.
Theo từ điển Tiếng Việt có nêu rằng: NL có nghĩa “là khả năng làm việc tốt”, NL là “khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hoạt động nào đó” như NL tư duy, NL tài chính hoặc là “phẩm chất tâm sinh lý và trình độ chuyên môn tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” như NL chuyên môn, NL lãnh đạo [29, tr. Một nhà tâm lí học người Nga V.Cruchetxki lại cho rằng: “Năng lực là một phức hợp các đặc điểm tâm lí cá nhân của con người đáp ứng những yêu cầu của một hoạt động nào đó và là điều kiện để thực hiện thành công hoạt động đó” [24, tr. Theo cách hiểu khác NL “là sự tập hợp các đặc tính cá nhân của con người, đáp ứng các yêu cầu mà công việc đưa ra, đảm bảo thực hiện công việc đó đạt kết quả cao” hay NL là “khả năng vận dụng kiến thức, kĩ năng một cách tốt nhất để giải quyết có hiệu quả những vấn đề biến đổi trong cuộc sống hàng ngày”. NL cũng là “một tập hợp các thuộc tính đặc biệt của con người tương ứng với một hoạt động nhất định để đảm bảo rằng các hoạt động đó đạt được hiệu quả cao”.
Theo CT GDPT 2018 xác định: “NL là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến 9 thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, v.v thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. [8] “NL là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí… để thực hiện thành công một loại công việc trong bối cảnh nhất định”. [36] Như vậy chúng ta có thể hiểu: “NL là khả năng sử dụng kiến thức, vận dụng kĩ năng để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống”. Trong CTGDPT 2018 chia NL thành hai nhóm: nhóm các NL chung và nhóm các NL đặc thù môn học.
Trong đó NL chung là “những NL cơ bản, thiết yếu hoặc cốt lõi, làm nền tảng cho các hoạt động của con người trong cuộc sống và lao động sản xuất”. Các hoạt động giáo dục với cách thức, khả năng khác nhau nhưng đều có chung mục đích hình thành và phát triển các NL chung cho HS. Nhóm các NL chung bao gồm: “NL tự chủ và tự học, NL giao tiếp và hợp tác, NL GQVĐ và sáng tạo”. NL đặc thù là “những NL cơ bản, thiết yếu được hình thành và phát triển trên cơ sở các NL chung theo định hướng chuyên sâu, riêng biệt trong các loại hình hoạt động, công việc hoặc tình huống, môi trường đặc thù, cần thiết cho những hoạt động chuyên biệt, đáp ứng yêu cầu hạn hẹp hơn của một hoạt động như âm nhạc, toán học, mĩ thuật,v.
Trong đó, năng lực chuyên biệt và năng lực chung có mối quan hệ với nhau. Năng lực chung là cơ sở để đạt được năng lực cụ thể; Tuy nhiên, trong một số trường hợp, năng lực cụ thể ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển năng lực chung. NL góp phần làm cho kiến thức được áp dụng một cách tốt hơn; Hỗ trợ để có được các kỹ năng và kỹ thuật. Năng lực của một cá nhân có thể xuất phát từ nhân cách, nhưng chủ yếu là hình thành con người hoạt động tích cực dưới sự rèn luyện gắt gao.
Bạn cần rèn luyện và phát triển. Để làm tốt một công việc, phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau trong một công việc; Đó là do kỹ năng được hình thành và phát triển khi thực hiện một nhiệm vụ, nhờ đó người học có kiến thức và kỹ năng giải quyết các tình huống trong thực tế. Kỹ thuật và thái độ cần 10 được sử dụng. Do đó, có thể nói “kiến thức là cơ sở để hình thành NL, là nguồn lực để người học tìm ra cách để giải quyết tối ưu các nhiệm vụ, hoặc có cách cư xử phù hợp trong cuộc sống”.
Để nắm bắt kiến thức mới từ kiến thức đã có, kiến thức mới là cơ sở để học sinh cấu trúc, có thể coi kiến thức mới được cấu trúc và phát triển theo dạng bậc thang. Năng lực Toán học Theo V. Krutecxki hiểu theo góc độ tâm lí: Một là, theo ý nghĩa NL học tập (tái tạo) tức là “NL đối với việc học tập, đối với việc nắm chương trình toán ở phổ thông, nắm một cách nhanh và tốt kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo tương ứng”. Hai là, theo ý nghĩa NL sáng tạo (khoa học), tức là “NL đối với hoạt động sáng tạo, tạo ra những kết quả mới, khách quan có giá trị lớn đối với loài người”.
Trong phạm vi luận văn này, tôi muốn mô tả năng lực toán học ở khía cạnh thứ nhất. Năng lực toán học ở học sinh được xác định bởi những đặc điểm tâm lý cá nhân (thứ nhất là đặc điểm hoạt động trí tuệ) đáp ứng nhu cầu học tập toán học trong những điều kiện tương tự. Đó là kiến thức trong lĩnh vực này. Nắm vững các kỹ năng và kỹ thuật là lý do để thành công.
Anh ấy đã có thể sáng tạo như một môn học toán học. Theo CTGDPT 2018 giáo dục Toán học góp phần hình thành và phát triển cho HS các PC chủ yếu, NL chung và NL toán học với các thành phần sau: “tư duy và lập luận toán học, mô hình hóa toán học, GQVĐ toán học, giao tiếp toán học, sử dụng các công cụ và phương tiện học toán; phát triển kiến thức, kĩ năng then chốt và tạo cơ hội để HS trải nghiệm, vận dụng toán học vào thực tiễn”. Năng lực giải quyết vấn đề toán học NL GQVĐ toán học là một trong năm thành tố cốt lõi của NL toán học trong CTGDPT 2018. Theo Chương trình đánh giá PISA 2012, NL GQVĐ là “Khả năng hiểu và giải quyết các tình huống mơ hồ một cách cá nhân.
Nó cũng 11 liên quan đến việc tham gia giải quyết vấn đề đó, điều này cho thấy tiềm năng trở thành công dân tích cực và mang tính xây dựng” [40]. Theo Nguyễn Thị Lan Phương (2014): “NL GQVĐ là khả năng của một cá nhân “huy động”, kết hợp một cách linh hoạt và có tổ chức kiến thức, kĩ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân, v.v để hiểu và GQVĐ trong tình huống nhất định một cách hiệu quả và với tinh thần tích cực”. Theo [32] NL GQVĐ của HS là sự huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng, thái độ, cảm xúc, động cơ của HS để giải quyết các tình huống thực tiễn trong bối cảnh cụ thể. Xuất phát từ các định nghĩa trên, có thể hiểu NLGQVĐ toán học là khả năng của HS khi kết hợp linh hoạt những kinh nghiệm, kiến thức, kĩ năng, thái độ để giải quyết thành công các tình huống có vấn đề một cách hiệu quả, tích cực và sáng tạo.
Theo Chương trình giáo dục Phổ thông 2018, biểu hiện cụ thể của năng lực giải quyết vấn đề và yêu cầu cần đạt thể hiện qua việc: - Nhận biết, phát hiện được vấn đề cần giải quyết bằng toán học : HS nhận biết được vấn đề cần giải quyết và nêu được thành câu hỏi. - Lựa chọn, đề xuất được cách thức, giải pháp giải quyết vấn đề: HS nêu được cách thức giải quyết vấn đề. - Sử dụng được các kiến thức, kĩ năng toán học tương thích (bao gồm các công cụ và thuật toán) để giải quyết vấn đề đặt ra: Thực hiện và trình bày được cách thức giải quyết vấn đề ở mức độ đơn giản. - Đánh giá được giải pháp đề ra và khái quát hoá được cho vấn đề tương tự: Kiểm tra được giải pháp đã thực hiện.
Như vây, môn Toán góp phần hình thành và phát triển năng lực giải quyết vấn đề thông qua việc giúp học sinh nhận biết được tình huống có vấn đề; chia sẻ sự am hiểu vấn đề với người khác; biết đề xuất, lựa chọn được cách thức, quy trình giải quyết vấn đề và biết trình bày giải pháp cho vấn đề; biết đánh giá giải pháp đã thực hiện và khái quát hoá cho vấn đề tương tự. Một số vấn đề cơ bản về giáo dục STEM ở Tiểu học. Khái niệm STEM STEM là “thuật ngữ được ghép từ các chữ cái đầu tiên của từ Science (Khoa học), Technology (Công nghệ), Engineering (Kĩ thuật) và Mathematics (Toán học) đề cập đến cách tiếp cận liên môn trong học tập và dạy học tích hợp trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, kĩ thuật và toán học”. Mục tiêu, vai trò của giáo dục STEM a) Mục tiêu: - Xây dựng kỹ năng nhận thức STEM cho thế hệ công dân tương lai: Mục tiêu này tập trung chủ yếu vào chương trình giáo dục phổ thông từ mẫu giáo đến lớp 12.
Mục tiêu chính không phải là tạo ra những học sinh thông thạo khoa học và toán học, mà là tạo ra kiến thức và hiểu biết trong các lĩnh vực STEM. Lý do giáo dục tích hợp STEM là con đường phát triển của xã hội trong tương lai để mọi người đều có thể tiếp cận thông tin. Có hiểu biết cơ bản về kiến thức tích hợp; Giáo dục tích hợp STEM hướng tới năng lực STEM, vì cần hiểu tầm quan trọng của tri thức khoa học và công nghệ.[3, tr 7] - Chuẩn bị những năng lực cần thiết cho nguồn lực lao động trong thế kỷ 21: Mục tiêu này chủ yếu được thể hiện trong các chương trình giáo dục chính quy và không chính quy, từ chương trình phổ thông đến đại học. Có nhiều cách để định nghĩa các kỹ năng cần thiết cho người lao động trong thế kỷ 21, nhưng tóm lại, những kỹ năng này hướng đến người lao động có thể thích nghi và làm việc hiệu quả trong môi trường làm việc của xã hội.