ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năn gần đây, vấn đề thu gom và xử lý chất thải rắn (CTR) đã trở thành một trong những thách thức lớn đối với mọi quốc gia trên toàn thế giới, đặc biệt là đối với các nƣớc đang trong quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhƣ Việt Nam. TheoBáo cáo Diễn biến Môi trƣờng Việt Nam 2004của Bộ Tài Nguyên và Môi trƣờng,tổng lƣợng chất thải rắn phát sinh mỗi năm ƣớc tính 15 triệu tấn, trong đó 80% là chất thải rắn sinh hoạt, phần còn lại từ các hoạt động công nghiệp,nông nghiệp và y tế.Công tác quản lý chất thải rắn vẫn còn nhiều bất cập và chƣa thực sự hiệu quả. Lƣợng chất thải rắn đƣợc thu gom vẫn ở mức thấp và chủ yếu tập trung ở các đô thị. Phần lớn chất thải rắn chƣa đƣợc phân loại, thu gom và vận chuyển hợp vệ sinh.
Nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc chƣa có bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh và vận hành đúng kỹ thuật. Cũng nhƣ nhiều địa phƣơng khác, tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, vấn đề chất thải rắn đã và đang trở thành vấn đề cần đƣợc quan tâm đặc biệt của ngƣời dân và chính quyền địa phƣơng. Chất thải rắn phát sinh trong phạm vi của huyện chủ yếu đƣợc thu gom và xử lý theo hình thức tự phát, với biện pháp xử lý chủ yếu là đổ đống tự nhiên, lộ thiên, mang tính tạm thời, không có quy hoạch định hƣớng, không hợp vệ sinh và bắt đầu gây ô nhiễm cho môi trƣờng xung quanh. Xuất phát từ thực tiễn huyện Gia Viễn chƣa có biện pháp hay hình thức thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt cho hệ thống toàn huyện, tác giả đã lựa chọn chủ đề: “Thiết kế tuyến thu gom và trạm trung chuyển chất thải rắn tại huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình”làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp.
Đề tài đƣợc thực hiện với mục tiêu cung cấp cơ sở lý luận cho việc thiết kế tuyến thu gom và trạm trung chuyển chất thải rắn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả quản lý môi trƣờng tại khu vực nghiên cứu. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề chung liên quan đếnchất thải rắn 1.1 Khái niệm cơ bản a. Chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam, tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về chất thải rắn và chất thải rắn sinh hoạt. Theo Đặng Kim Chi (2002),chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất đƣợc con ngƣời loại bỏ trong các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng v.
Trong đó chất thải chiếm tỉ phần lớn nhất là các loại chất thải phát sinh từ các hoạt động sản xuất và hoạt động sống. Theo Báo cáo diễn biến môi biến môi trƣờng Việt Nam 2004 của Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng, chất thải rắn (hay còn gọi là rác thải) là chất thải không ở dạng lỏng, không hoà tan, đƣợc thải ra từ các hoạt động sinh hoạt, y tế, công nghiệp. Chất thải rắn còn bao gồm bùn cặn, phế phẩm trong nông nghiệp, xây dựng, khai thác mỏ. Theo Nghị định 59/2007/NĐ-CP,Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn đƣợc thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác.
Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thƣờng và chất thải rắn nguy hại. Chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng đƣợc gọi chung là chất thải rắn sinh hoạt. Chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH): là những chất thải liên quan đến các hoạt động của con ngƣời, nguồn tạo thành chủ yếu từ các khu dân cƣ, các cơ quan, trƣờng học, các trung tâm dịch vụ thƣơng mại. Chất thải rắn sinh hoạt có thành phần bao gồm thực phẩm dƣ thừa hoặc quá hạn sử dụng, xƣơng động vật, tre gỗ, vải giấy, rơm rạ, xác động vật, vỏ rau quả, vỏ hộp kim loại, thuỷ tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, chất dẻo,…(Nguyễn Thế Chinh,2003).
Phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển và xử lý chất thải rắn Phân loại chất thải rắn tại nguồn là hoạt động cần thiết và hiệu quả nhất trong việc giảm chất thải rắn ngay tại nguồn. Phân loại chất thải rắn tại nguồn 2 nhằm tách các loại chất thải nguy hại ra khỏi thành phần chất thải rắn hữu cơ, tạo nguồn hữu cơ sạch để sản xuất compost, chế biến phân hữu cơ có chất lƣợng cao phục vụ cho nông nghiệp và tái sinh năng lƣợng một cách có hiệu quả từ chất thải rắn hữu cơ. Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lƣu trữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở đƣợc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền chấp thuận. Lưu trữ chất thải rắn là việc giữ chất thải rắn trong một khoảng thời gian nhất định đƣợc các cơ quan có thẩm quyền chấp thuận trƣớc khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.
Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên trở chất thải rắn từ nơi phát sinh, thu gom, lƣu trữ, trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế, tái sử dụng, bãi chôn lấp cuối cùng. Xử lý chất thải là dùng các biện pháp kỹ thuật để xử lý các chất thải và không làm ảnh hƣởng tới môi trƣờng; tái tạo ra các sản phẩm có lợi cho xã hội nhằm phát huy hiệu quả kinh tế (Trung tâm Thông tin Khoa Học và Công Nghệ Quốc gia, 2007) 1.2 Nguồn gốc phát sinh và phân loại chất thải rắn a. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn Chất thải rắn đƣợc phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau, căn cứ vào đặc điểm của chất thải rắn, có thể phân chia nguồn gốc phát sinh của chất thải rắn thành nhiều nguồn khác nhau (sơ đồ 1. Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn 3 b.
Phân loại chất thải rắn Phân loại theo nguồn gốc phát sinh Chất thải rắn sinh hoạt:là chất thải rắn phát thải trong sinh hoạt cá nhân, hộ gia đình, nơi công cộng nhƣ thức ăn thừa, sách báo, quần áo. Chất thải rắn công nghiệp: Chất thải rắn phát thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, làng nghề, kinh doanh dịch vụ hoặc các hoạt động khác đƣợc gọi chung là chất thải rắn công nghiệp. Chất thải rắn nông nghiệp: sinh ra do các hoạt động nông nghiệp nhƣ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến nông sản trƣớc và sau thu hoạch nhƣ rơm rạ, chai lọ thuốc trừ sâu. Chất thải rắn xây dựng: là các phế thải nhƣ đất đá, gạch ngói, bê tông vỡ, vôi vữa, đồ gỗ, nhựa, kim loại do các hoạt động xây dựng tạo ra.
Chất thải rắn y tế:là những vật phẩm, bệnh phẩm, các loại hóa chất vv… sinh ra trong quá trình hoạt động của bệnh viện, trung tâm y tế. Theo mức độ nguy hại Chất thải rắn nguy hại: là loại chất dễ gây phản ứng, dễ cháy nổ, ăn mòn, nhiễm khuẩn độc hại, chứa chất phóng xạ, các kim loại nặng. Các chất thải này chứa ẩn nhiều khả năng gây sự cố rủi ro, nhiễm độc, đe dọa đến sức khỏe con ngƣời và sự phát triển của động thực vật, đồng thời là nguồn lan truyền gây ô nhiễm môi trƣờng đất, nƣớc, không khí. Chất thải rắn thông thường: là các chất thải không chứa các chất và hợp chất có các tính chất nguy hại.
Thƣờng là các chất thải có khả năng phân hủy tự nhiên theo thời gian. Theo đặc tính của chất thải Chất thải rắn hữu cơ: gồm cây cỏ, lá rụng, rau quả hƣ hỏng, rác nhà bếp, phân gia súc, gia cầm. Chất thải rắn vô cơ: gồm các loại phế thải thủy tinh, sành sứ, kim loại, cao su, nhựa, vải. Chất thải rắn độc hại: là phế thải gây độc hại cho con ngƣời và môi trƣờng nhƣ pin, bình ắc quy, hóa chất, chai lọ thuốc trừ sâu.3 Thành phần chất thải rắn Tùy vào từng nguồn phát sinh chất thải rắn khác nhau mà thành phần và tính chất của chất thải rắn cũng có sự khác nhau.
Thành phần của chất thải rắn có thể đƣợc chia ra làm 3 loại cơ bản nhƣ sau: - Các chất cháy đƣợc: giấy, cỏ, củi, gỗ, chất dẻo, cao su. - Các chất không cháy đƣợc: kim loại (kim loại đen, kim loại màu), thủy tinh,đá , sành sứ. - Các chất hỗn hợp: tất cả các vật liệu khác, không phân loại ở trên. Chúng đƣợc chia làm 2 loại: kích thƣớc nhỏ hơn 5mm và lớn hơn 5mm.
Theo các nguồn tài liệu thu đƣợc từ các nghiên cứu về chất thải rắn đô thị ở Việt Nam, thấy rằng trong thành phần chất thải rắn đô thị, thì chất thải rắn hữu cơ chiếm đến 55% tổng lƣợng chất thải rắn 1.4 Hoạt động quản lý chất thải rắn Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tƣ xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, giảm nguồn thải, tái sử dụng, tái chế, làm phân hữu cơ, thu gom, thu hồi năng lƣợng và chôn lấp chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trƣờng và sức khỏe con ngƣời.2 mô tả trình tự của hoạt động quản lý CTR. Nguyên tắc quản lý tổng hợp chất thải rắn (Nguồn: Van de Klundert và Anschutz,2002) 5 a. Phòng ngừa, phân loại và giảm thiểu chất thải rắn tại nguồn Trong tiếp cận quản lý tổng hợp chất thải thì phòng ngừa là nguyên tắc hàng đầu. Phòng ngừa là sự ngăn chặn sự phát thải hoặc tránh tạo ra chất thải.
Phân loại chất thải rắn là hoạt động cần thiết và hiệu quả nhất trong việc giảm chất thải rắn ngay tại nguồn.Phân loại chất thải rắn tại nguồn nhằm tách các loại chất thải nguy hại ra khỏi thành phần chất thải rắn hữu cơ, tạo nguồn hữu cơ sạch để sản xuất compost, chế biến phân hữu cơ có chất lƣợng cao phục vụ cho nông nghiệp và tái sinh năng lƣợng một cách có hiệu quả từ chất thải rắn hữu cơ. Ngoài ra, phân loại chất thải rắn tại nguồn để nâng cao hiệu quả của hệ thống tái chế, tái sử dụng một cách có hiệu quả các nguồn tài nguyên và năng lƣợng. Giảm thiểu (tiết giảm) là việc làm để sự phát thải là ít nhất. Khi sự phát thải đƣợc giảm tới mức gần bằng 0 thì khi đó phòng ngừa đƣợc coi là tuyệt đối.
Trong một chiến lƣợc quản lý tổng hợp chất thải trƣớc tiên cần đƣợc chú ý vào các biện pháp hạn chế sự phát thải và giảm thiểu đƣợc phát thải thì càng giảm thiểu đƣợc chi phí cho các khâu tiếp theo để xử lý chất thải ( tái sử dụng, tái chế, thu thồi, chôn lấp.