Chương 1: Tổng quan Giới thiệu sơ lược về tình hình nghiên cứu hiện nay cũng như tính cấp thiết của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết Nêu các lý thuyết cần thiết để sử dụng trong đề tài. Chương 3: Tính toán và thiết kế hệ thống Trình bày sơ đồ hệ thống và giải thích hoạt động của hệ thống. 3 do an Đưa ra các phương pháp lựa chọn phần cứng và xác định lựa chọn phù hợp với yêu cầu của đề tài.
Chương 4: Thi công hệ thống Tính toán đưa ra giải thuật, thuật toán phần mềm. Trình bày kết quả đã thực hiện về phần cứng và phần mềm. Đưa ra các kết quả thực nghiệm và đánh giá, nhận xét hệ thống. Chương 5: Kết luận và hướng phát triển Nêu các ưu điểm và các điểm cần cải thiện của đề tài, hướng khắc phục và hướng phát triển trong tương lai.
4 do an CHƯƠNG 2. Tổng quan về các chuẩn truyền 2. Tổng quan về UART Khái niệm USART [2] (hay UART nếu chỉ nói đến bộ truyền nhận không đồng bộ) thường để chỉ thiết bị phần cứng (device, hardware), không phải chỉ một chuẩn giao tiếp. USART hay UART cần phải kết hợp với một thiết bị chuyển đổi mức điện áp để tạo ra một chuẩn giao tiếp nào đó.
Tín hiệu theo chuẩn RS232 trên máy tính cá nhân thường là - 12V cho mức logic high và +12V cho mức low. Giao tiếp giữa máy tính và các bàn phím (trừ bàn phím kết nối theo chuẩn USB) là một ví dụ của cách truyền thông nối tiếp đồng bộ. Khác với cách truyền đồng bộ, truyền thông “không đồng bộ” chỉ cần một đường truyền cho một quá trình. “Khung dữ liệu” đã được chuẩn hóa bởi các thiết bị nên không cần đường xung nhịp báo trước dữ liệu đến.
Truyền thông nối tiếp không đồng bộ vì thế hiệu quả hơn truyền thông đồng bộ (không cần nhiều lines truyền). Tuy nhiên, để quá trình truyền thành công thì việc tuân thủ các tiêu chuẩn truyền là hết sức quan trọng. Tổng quan về chuẩn giao tiếp SPI SPI là một chuẩn truyền thông nối tiếp tốc độ cao do hãng Motorola đề xuất. Đây là kiểu truyền thông Master-Slave, trong đó có 1 chip Master điều phối quá trình tuyền thông và các chip Slaves được điều khiển bởi Master vì thế truyền thông chỉ xảy ra giữa Master và Slave.
SPI là một cách truyền song công (full duplex) nghĩa là tại cùng một thời điểm quá trình truyền và nhận có thể xảy ra đồng thời. Chức năng của từng chân module RFID: SCK: Xung giữ nhịp cho giao tiếp SPI. MISO– Master Input / Slave Output: nếu là chip Master thì đây là đường Input còn nếu là chip Slave thì lại là Output. MISO của Master và các Slaves được nối trực tiếp với nhau.
MOSI – Master Output / Slave Input: nếu là chip Master thì đây là đường Output còn nếu là chip Slave thì là Input. MOSI của Master và các Slaves được nối trực tiếp với nhau. SS – Slave Select: SS là đường chọn Slave cần giao tiếp, trên các chip Slave đường SS sẽ ở mức cao khi không làm việc. Nếu chip Master kéo đường SS của một Slave nào đó xuống mức thấp thì việc giao tiếp sẽ xảy ra giữa Master và Slave đó.
Tổng quan về I2C 5 do an I2C sử dụng hai đường truyền tín hiệu: một đường xung nhịp đồng hồ (SCL) và một đường dữ liệu (SDA). SCL và SDA luôn được kéo lên nguồn bằng một điện trở kéo lên có giá trị xấp xỉ 4,7 KOhm. Các chế độ hoạt động của I2C bao gồm: Chế độ chuẩn (standard mode) hoạt động ở tốc độ 100 Kbit/s. Chế độ tốc độ thấp (low-speed mode) hoạt động ở tốc độ 10 Kbit/s.
Tần số xung nhịp đồng hồ có thể xuống 0 Hz. I2C sử dụng 7 bit để định địa chỉ, do đó trên một bus có thể định địa chỉ tới 112 nút, 16 địa chỉ còn lại được sử dụng vào mục đích riêng. Điểm mạnh của I2C chính là hiệu suất và sự đơn giản của nó: một khối điều khiển trung tâm có thể điều khiển cả một mạng thiết bị mà chỉ cần hai lối ra điều khiển. Ngoài ra I2C còn có chế độ 10 bit địa chỉ tương đương với 1024 địa chỉ, tương tự như 7 bit, chỉ có 1008 thiết bị có thể kết nối, còn lại 16 địa chỉ sẽ dùng để sử dụng vào mục đích riêng.
+V R R SCL SDA SDA SDA SDA SCL SCL SCL Master Slave 1 Slave2 Hình 2. Tổng quan về công nghệ RFID Công nghệ RFID là một trong những công nghệ nhận dạng dữ liệu tự động tiên tiến nhất hiện nay có tính khả thi cao và áp dụng trong thực tế rất hiệu quả. RFID đang hiện diện trong rất nhiều lĩnh vực tự động hóa, rất nhiều ứng dụng quản lý và các mô hình tổ chức khác nhau nhằm đem lại những giải pháp nhận dạng dữ liệu tự động tối ưu và hiệu quả hơn. Công nghệ RFID cho phép một thiết bị đọc thông tin chứa trong chip không tiếp xúc trực tiếp ở khoảng cách xa, không thực hiện bất kỳ giao tiếp vật lý nào hoặc giữa hai vật không nhìn thấy.
Công nghệ này cho ta phương pháp truyền, nhận dữ liệu từ một điểm đến điểm khác. Kỹ thuật RFID sử dụng truyền thông không dây trong dải tần sóng vô tuyến để truyền dữ liệu từ các tag (thẻ) đến các reader (bộ đọc). Tag có thể được đính kèm hoặc gắn vào đối tượng được nhận dạng chẳng hạn sản phẩm, hộp hoặc giá kệ (pallet). Reader 6 do an scan dữ liệu của tag và gửi thông tin đến cơ sở dữ liệu có lưu trữ dữ liệu của tag.
Chẳng hạn, các tag có thể được đặt trên kính chắn gió xe hơi để hệ thống thu phí đường có thể nhanh chóng nhận dạng và thu tiền trên các tuyến đường. Một hệ thống RFID gồm những thành phần cơ bản sau [8]: Thẻ RFID (RFID Tag, còn được gọi là transponder): là một thẻ gắn chíp cộng antena. Gồm 2 loại: RFID passive tag và active tag: - Passive tags: Không cần nguồn ngoài và nhận nằng lượng từ thiết bị đọc. Khoảng cách đọc ngắn.
- Active tags: Được nuôi bằng PIN, sử dụng với khoảng cách đọc lớn. Reader hoặc sensor: để đọc thông tin từ các thẻ, có thể đặt cố định hoặc lưu động. Antenna: Là thiết bị liên kết giữa thẻ và thiết bị đọc. Thiết bị đọc phát xạ tín hiệu sóng để kích họat và truyền nhận với thẻ.
Server: nhu nhận, xử lý dữ liệu, phục vụ giám sát, thống kê, điều khiển. 2 Hệ thống RFID cơ bản. Về dải tần hoạt động của hệ thống RFID. Khi phải lựa chọn một hệ thống RFID, yêu cầu đầu tiên là chọn dải tần hoạt động của hệ thống.
Tần số thấp - Low frequency 125 KHz: Dải đọc ngắn tốc độ đọc thấp. Dải tần cao - High frequency 13.56 MHz: Khoảng cách đọc ngắn tốc độ đọc trung bình. Phần lớn thẻ Passive sử dụng dải này. Dải tần cao hơn - High frequency: Dải đọc từ ngắn đến trung bình, tốc độ đọc trung bình đến cao.
Phần lớn thẻ Active sử dụng tần số này. Dải siêu cao tần - UHF frequency 860-960 MHz. Dải đọc rộng Tốc độ đọc cao. Phần lớn dùng thẻ Active và một số thẻ Passive cao tần sử dụng dải này.
Dải vi sóng - Microwave 2.8 GHz: Dải đọc rộng tốc độ đọc lớn. Tổng quan về ngôn ngữ lập trình Web 2. HTML HTML là ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản chỉ rõ một trang Web sẽ được hiển thị như thế nào trên trình duyệt. Bằng cách sử dụng các thẻ và các phần tử html ta có thể: Điều khiển hình thức và nội dung của trang.
Xuất bản các tài liệu trực tuyến và truy xuất thông tin trực tuyến bằng cách sử dụng các liên kết được chèn vào tài liệu html. Tạo các biểu mẫu trực tuyến để thu thông tin về người dùng, quản lý các giao dịch. Chèn các đối tượng như audio clip, video clip, các thành phần ActiveX, Flash và các Java Applet vào tài liệu html. Về cấu trúc cơ bản của HTML, để bắt đầu một file html, ta cần sử dụng thẻ <html> để mở và kết thúc bằng thẻ </html>.
Bên trong một file html gồm có 2 phần cơ bản: Phần tiêu đề: Phần tiêu đề bắt đầu bằng thẻ <head> và kết thúc bởi thẻ </head>. Phần này chứa tiêu đề mà được hiển thị trên thanh điều hướng của trang Web. Tiêu đề nằm trong thẻ title, bắt đầu bằng thẻ <title> và kết thúc là thẻ </title>. Phần thân: phần này nằm sau phần tiêu đề.
Phần thân bao gồm văn bản, hình ảnh và các liên kết mà ta muốn hiển thị trên trang web của mình. Phần thân bắt đầu bằng thẻ <body> và kết thúc bằng thẻ </body>. Thẻ <font> dùng để điều khiển sự hiển thị văn bản trên trang Web. Ngoài ra cũng có thể chỉ định các thuộc tính như kích thước, màu sắc, kiểu chữ.
1 Thuộc tính của văn bản trong HTLM. Thuộc tính Mô tả Được dùng để chỉ màu của font. Chúng ta có thể dùng tên màu COLOR hoặc giá trị thập phân để xác định màu. Được dùng để chỉ kích thước của font.
Chúng ta có thể xác định các kích thước FONT từ 1 cho đến 7. Kích thước lớn nhất là 7 và nhỏ nhất là 1. Chúng ta có thể dùng một kích thước chuẩn và chỉ SIZE ra những kích thước tiếp theo liên quan đến kích thước chuẩn. Ví dụ, nếu kích thước chính là 3, thì, SIZE = +4 sẽ tăng lên 7, SIZE = -1 sẽ giảm xuống 2 FACE Được dùng để chỉ định kiểu font (phông chữ) 8 do an Về cách sử dụng màu sắc, ta có thể thêm màu vào trang và các phần tử trong trang.
COLOR là thuộc tính có thể được sử dụng với nhiều phần tử như phần tử FONT và BODY. Có 3 kiểu màu chính: đỏ, xanh lá và xanh da trời. Mỗi màu chính được xem như một bộ hai số của hệ 16 - #RRGGBB. Số thập lục phân 00 chỉ 0% của màu trong khi đó số thập lục phân FF chỉ 100% của màu.
Giá trị cuối cùng là một mã sáu chữ số chỉ màu. 2 Bảng màu cơ bản trong HTML. Mã thập lục phân Màu #FF0000 Red #00FF00 Green #0000FF Blue #000000 Black #FFFFFF White Về cách chèn ảnh, ta dùng thẻ <img> dùng để chèn hình ảnh vào trong HTML. Chúng ta cũng có thể đặt thẻ IMG tại vị trí mà hình ảnh được hiển thị.
Thẻ IMG không có nội dung, nó hiển thị nội dung bằng cách xác định thuộc tính SRC. Cú pháp là <IMG SRC=”URL”>. Trong đó SRC (source) là thuộc tính và giá trị là một URL, chỉ vị trí chính xác của file ảnh.