CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ỨNG DỤNG MÔ HÌNH ĐỊA CƠ HỌC TRONG CÔNG TÁC THIẾT KẾ ỔN ĐỊNH GIẾNG KHOAN PHÁT TRIỂN 1.1 Ứng dụng mô hình địa cơ học trong thiết kế giếng khoan GC-1P tại bồn trũng Nam Côn Sơn [1] Tại Bồn trũng Nam Côn Sơn, Công ty Côn Sơn JOC đã thực hiện nghiên cứu phân tích ổn định thành giếng để khoan thẩm lượng các giếng khoan tại mỏ Gấu chúa và Cá Chó, ngoài khơi Việt nam. Nghiên cứu được thực hiện bởi Công ty Baker Hughes vào năm 2013 bằng sử dụng phần mềm cơ sở GMI Wellcheck và lý thuyết về mô hình địa cơ học.1 Mục tiêu nghiên cứu Xây dựng một mô hình địa cơ học cụ thể dựa trên dữ liệu từ năm giếng khoan thăm dò CC-2X, CC-2XST, GC-1X, GC-1XST và GC-2X. Dự đoán cơ chế gây ra những vấn đề không ổn định bằng cách xem xét các giếng đã khoan dựa trên mô hình địa cơ học này. Tiến hành phân tích sự ổn định thành giếng cho giếng khoan thẩm lượng GC- 1P với mục đích: o Xác định cửa sổ dung dịch khoan để hạn chế sập lở thành giếng khoan, tránh hiện tượng kick do tỷ trọng dung dịch thấp.
o Nghiên cứu sâu về ứng suất đứng tại khoảng độ sâu từ 2000mMD đến tầng móng.2 Kết quả nghiên cứu Mỏ Gấu Chúa và Cá Chó có trường ứng suất bình thường: Shmin < SHmax < SV (hình 1. Góc phương vị của SHmax là 120N tới 200N. Trong đó ứng suất đứng SV được xác định bằng sử dụng dữ liệu tỷ trọng. Ứng suất ngang nhỏ nhất Shmin xác định từ dữ liệu Leak-off Test.
Ứng suất ngang lớn nhất SHmax được tính toán từ dữ liệu thu thập từ minh giải ảnh của giếng khoan GC-2X. Áp suất lỗ rỗng bình thường, tuân theo mực thủy tĩnh với tỷ trọng chất lưu < 8. Giếng khoan GC-1P được xây dựng với mô hình áp suất thủy tĩnh, tương tự như giếng khoan CC-2X.1: Trường ứng suất của mỏ GC & CC Cửa sổ dung dịch khoan theo tính toán cho giếng GC-1P như bảng 1.1 với dung dịch khoan gốc nước. Dung dịch khoan gốc dầu sẽ cải thiện hơn tính chất thành hệ khoan qua cũng có thể được xem xét sử dụng trong tính toán dung dịch khoan.
Tỷ trọng dung dịch lớn nhất được giới hạn bởi gradient vỡ vỉa tại chân đế cột ống chống trước đó.1: Cửa sổ dung dịch khoan thiết kế cho giếng GC-1P 4 1.3 Trình tự công việc xây dựng mô hình cơ học đá: Hình 1.2: Các bước xây dựng mô hình cơ học đá cho giếng GC-1P Các bước xây dựng mô hình cơ học đá cho giếng GC-1P như trình bày trên hình 1. Từ việc sử dụng tài liệu mẫu lõi, địa vật lý, dữ liệu khoan và kinh nghiệm để xây dựng mô hình cơ học đất đá đặc trưng cho ứng suất tại chỗ, áp lực lỗ rỗng, tính chất cơ học đá của lớp phủ và vỉa. Từ đó, rút ra được vấn đề về sự không ổn định của các lỗ khoan là do sự phá huỷ của các thớ lớp phẳng yếu và sức bền của lớp đá dị hướng trong tập đá phiến sét xen kẹp với cát kết. Để kiểm soát thớ lớp yếu và sự phá huỷ của tập đá dị hướng thì cần phải tăng tỉ trọng dung dịch khoan từ kế hoạch ban đầu.
Trong khi đó, tỉ trọng dung dịch cần thiết cho việc duy trì sự ổn định thành giếng thay đổi tùy thuộc vào quỹ đạo thân giếng và đặc tính lớp đất đá. Nếu tỉ trọng dung dịch cao có thể gây nhiễm bẩn thành hệ và nguy cơ nứt vỡ vỉa. Các thành phần chính của mô hình địa cơ học bao gồm ba ứng suất chính (ứng suất thẳng đứng: Sv, ứng suất ngang tối đa: SHmax và ứng suất ngang tối thiểu: Shmin), 5 áp lực lỗ rỗng (Pp) và tính chất cơ học đất đá, độ bền nén đơn trục (UCS) và góc ma sát trong. Các thành phần này có thể xác định bằng dữ liệu lỗ khoan của một vài giếng đại diện trong khu mỏ.
Khi ứng suất ngang không bằng nhau, một ứng suất bất đẳng hướng tạo ra và gây nên sự không ổn định thành giếng. Các thông tin ứng suất khu vực, các tài liệu đo mật độ logs, đo áp lực lỗ rỗng, dữ liệu nứt vỉa thuỷ lực (LOT – leak-off test), và độ bền đất đá lấy từ log được sử dụng để xây dựng mô hình địa cơ học. Trừ các góc phương vị và độ lớn của SHmax, các thành phần khác của mô hình địa cơ học có thể được xác định từ dữ liệu lỗ khoan bằng cách xem một vài giếng đại diện trong khu vực. Đá thí nghiệm là cát kết.
Log hiệu chuẩn UCS và các thông số cơ học khác của đá được sử dụng. Áp suất lỗ rỗng cũng vậy, các đường log siêu âm, mật độ và điện trở được sử dụng để ước tính áp suất lỗ rỗng, và đã được điều chỉnh bằng cách sử dụng dữ liệu đo lường trực tiếp và kinh nghiệm khoan. Dữ liệu cho thấy thành hệ gây áp lực lên vỉa là bình thường. Ứng suất thẳng đứng được tính bằng tích hợp mật độ thành hệ, và thu được từ các tài liệu wireline logs.
Độ lớn của Sv trong mỏ tương tự như trong khu vực vì đáy biển tương đối phẳng và mật độ đất đá ít thay đổi theo chiều ngang. Ứng suất ngang tối thiểu (Shmin) ở độ sâu nhất định có thể được ước tính trực tiếp từ các dữ liệu vỡ vỉa (XLOT – extended leak-off test), dữ liệu nứt vỉa thuỷ lực (LOT – leak-off test) hoặc mini-frac test.3 thể hiện đồ thị nứt vỉa thủy lực tại giếng GC-2X ở độ sâu 1817mTVD. Trong quá trình thử vỉa, tỷ trọng dung dịch khoan là 9.2 ppg, áp suất leak-off tại 1115 psi. Góc phương vị và độ lớn của ứng suất ngang tối đa (SHmax) có thể được ước tính thông qua việc phân tích các phá huỷ thân giếng như breakout và các vết nứt kéo.
Phân tích ứng suất cho phép xác định hướng phá huỷ thân giếng và độ lớn của SHmax vì sự phá huỷ thân giếng gây ra bởi ứng suất hoạt động xung quanh thân giếng khi khoan. Trong giếng có góc lệch thấp (gần thẳng đứng), breakout thường phát triển theo hướng Shmin. Góc phương vị của SHmax được chấp nhận là ~120N- 200N trong 6 mỏ dựa trên breakout thân giếng giải thích từ các dữ liệu hình ảnh đo điện. Quan trắc này là phù hợp với ứng suất định hướng trong khu vực (Hình 1.3: Thí nghiệm LOT tại giếng GC-2X ở độ sâu 1817mTVD Hình 1.4: Ứng suất ngang lớn nhất trong khu vực Hình 1.5 là phân tích Caliper trong giếng GC-2X ở độ sâu 2438-3528m.
Dữ 7 liệu đo Caliper cho thấy sự xuất hiện của hướng phá hủy lỗ khoan dựa theo hướng của Break out. Góc phương vị trung bình của Break out trong thành hệ đứng (<3250mMD) là 1020N. Góc phương vị trung bình của ứng suất ngang lớn nhất là 120N.5: Phân tích Caliper trong giếng GC-2X ở độ sâu 2438-3528m 1.4 Tổng hợp thành phần ứng suất đứng từ số liệu của 05 giếng khoan. Theo tính toán và thống kê, thành phần ứng suất đứng cho 05 giếng khoan có biên dạng như hình 1.
Chiều sâu mực nước của giếng GC-1P tương ứng với các giếng phân tích là 85m. Biên dạng ứng suất đứng của 5 giếng gần như tương đồng sai khác ít hơn 1ppg.6: Tổng hợp thành phần ứng suất đứng từ 05 giếng khoan 1.5 Ảnh hưởng của hướng khoan tới độ ổn định thành giếng Hình 1.7: Ảnh hưởng của hướng khoan tới độ ổn định thành giếng tại độ sâu 2,455 mMD 9 Ta thấy biên dưới của cửa sổ dung dịch khoan (màu xanh lá cây) tại mỗi điểm của lỗ khoan được kiểm soát bởi áp suất lỗ rỗng hay áp suất phá hủy giếng khoan. Biên trên của cửa sổ dung dịch khoan được kiểm soát bởi áp suất ngang nhỏ nhất trong tầng cát kết Shmin. Biên trên cũng cho biết giới hạn của tỷ trọng tuần hoàn tương đương trong quá trình khoan thực tế.7 thể hiện áp lực sụp lở thành giếng (borehole collapse pressure) tại tất cả các hướng khoan trong thành hệ.
Trong đó, hình này cũng thể hiện các thông số quỹ đạo của giếng khoan thiết kế GC-1P (vị trí ô tròn màu trắng trong hình). Mũi tên chỉ hướng phát triển của ứng suất ngang lớn nhất SHmax. Tại độ sâu 2,455 mMD, giếng có góc phương vị 1680, góc lệch thân giếng là 430 và giá trị borehole collapse tại độ sâu này là 9. Tỉ trọng dung dịch khoan được yêu cầu để đảm bảo sự ổn định thành giếng tỉ lệ với góc lệch thân giếng.
Tại các đoạn thân giếng nghiêng, tỉ trọng dung dịch khoan cần thiết cao hơn so với đoạn thân giếng đứng ở cùng độ sâu. Tuy nhiên, tỉ trọng dung dịch khoan được yêu cầu để đảm bảo sự ổn định thành giếng gần như không chịu ảnh hưởng bởi góc phương vị giếng.2 Ứng dụng mô hình địa cơ học trong thiết kế giếng khoan LDV-4X tại mỏ LDN và LDV [2] 1.1 Mục tiêu nghiên cứu Mô hình địa cơ học và phân tích độ ổn định thành giếng được xây dựng cho giếng khoan LDV-4X trong mỏ LDN và LDV dựa trên nghiên cứu địa cơ học từ các giếng khoan trước đó: LDN-1X, LDN-3X, LDV-1X và LDV-3X. Nghiên cứu được thực hiện bởi công ty Schlumberger vào năm 2012. Vấn đề chính gặp phải là hiện tượng mất dung dung dịch khoan khi khoan qua tầng đá móng granite, kẹt cần khoan.
Chính vì vậy nghiên cứu và xây dựng mô hình địa cơ học đã được thực hiện để phân tích những sự cố gặp phải trong quá trình khoan các giếng khoan trước đó và tính toán được cửa sổ khoan hợp lý cho giếng dự định sẽ khoan LDV-4X. Mục tiêu chính của nghiên cứu là xem xét lại những dữ liệu các giếng đã khoan, sử dụng các số liệu đo log, số liệu khoan và các số liệu liên quan để hiểu được các sự cố khoan và tính chất cơ học đá của mỏ.8: Sơ đồ mỏ LDV và LDN 1.2 Kết quả nghiên cứu Xây dựng được mô hình địa cơ học (Mechanical Earth Model) cho 4 giếng offset, bao gồm áp suất lỗ rỗng, mô hình ứng suất đất đá. Mô hình áp suất lỗ rỗng được thực hiện dựa trên phương pháp Eaton. Áp suất lỗ rỗng trong tầng móng được tính toán từ số liệu thử vỉa DST.
Áp suất lỗ rỗng được hiệu chỉnh lại dựa trên kinh nghiệm khoan và tỷ trọng dung dịch đã sử dụng trong khi khoan. Trường ứng suất của mỏ LDN là bình thường với Shmin < SHmax < SV, của mỏ LDV với đứt gãy trượt phẳng: Shmin < SV < SHmax và đứt gãy chờm nghịch trong tầng móng SV < Shmin < SHmax. Theo nghiên cứu, cửa sổ dung dịch khoan và độ sâu ống chống cho giếng khoan LDV-4X như bảng 1.