CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ROBOT TRONG SẢN XUẤT.1 Giới thiệu chung về Robot. Khái niệm Robot ra đời đầu tiên vào ngày 09/10/1922 tại New York, khi nhà soạn kịch người Tiệp Kh Karen Kapek đã tưởng tượng ra một cỗ máy hoạt động một cách tự động, nó là niềm mơ ước của con người lúc đó. Từ đó ý tưởng thiết kế, chế tạo Robot đã luôn thôi thúc con người. Đến năm 1948, tại phòng thí nghiệm quốc gia Argonne, Goertz đã chế tạo thành công tay máy đôi (master- slave manipulator).
Đến năm 1954, Goertz đã chế tạo tay máy đôi sử dụng động cơ servo và có thể nhận biết được lực tác động lên khâu cuối. Năm 1956 hãng Generall Mills đã chế tạo tay máy hoạt động trong việc thám hiểm dại dương. Mosher, của General Electric đã chế tạo một cỗ máy biết đi bằng 4 chân. Hệ thống vận hành bởi động cơ đốt trong và mỗi chân vận hành bởi một hệ thống servo thủy lực.
Năm 1969, đại học Stanford đã thiết kế được Robot tự hành nhờ nhận dạng hình ảnh. Năm 1970 con người đã chế tạo được Robot tự hành Lunokohod, thám hiểm bề mặt của mặt trăng. Robot Shakey Trong giai đoạn này, ở nhiều nước khác cũng tiến hành công tác nghiên cứu tương tự, tạo ra các Robot điều khiển bằng máy tính có lắp đặt các loại cảm biến và thiết bị giao tiếp người và máy. Theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, các Robot ngày càng được chế tạo nhỏ gọn hơn, thực được nhiều chức năng hơn, thông minh hơn.
Một lĩnh vực được nhiều nước quan tâm là các Robot tự hành, các chuyển động của chúng ngày càng đa dạng, bắt chước các chuyển động của chân người hay các loài động vật như: bò sát, động vật 4 chân. Và các loại xe Robot (robocar) nhanh chóng được ứng dụng rộng rãi trong các hệ thống sản xuất tự động linh hoạt(FMS). Nguyên bản của Robot Hexapod TU Munich 1. Phân loại Robot.
Phân loại Robot công nghiệp theo các ngành nghề công nghiệp. - Robot sử dụng trong ngành sản xuất oto xe máy – Automotive Industry. - Robot sử dụng trong gia công cơ khí. - Robot sử dụng trong ngành dược phẩm, y tế.
- Robot sử dụng trong ngành hóa chất. - Robot sử dụng trong ngành công nghiệp gỗ. - Robot sử dụng trong ngành chế tạo linh kiện điện tử. Ứng dụng Robot trong vận chuyển hàng hóa.
- Robot vận chuyển hàng trong nhà máy, công xưởng là các sản phẩm tự động hóa có khả năng điều hướng dưới sự lập trình của con người. + Robot vận chuyển có thể hoạt động liên tục 24/24h, đây là ưu điểm vượt trội nếu so sánh vào sức người, con người không thể làm việc liên tục 24h. + Robot vận chuyển có thể di chuyển hàng hóa từ tất cả các vị trí được lập trình sẵn, bao quát toàn bộ nhà xưởng, điều này một nếu dùng sức người khó có thể đáp ứng được nếu diện tích kho hàng hóa quá lớn. + Robot vận chuyển có thể di chuyển được khối lượng hàng hóa lớn hơn, nhanh chóng và năng suất.
Con người chỉ cần giám sát và theo dõi toàn bộ quá trình, việc còn lại sẽ hoàn toàn được tự động. + Toàn bộ quy trình được vận hành tự động, người lao động chỉ cần giám sát và lập trình theo đúng yêu cầu kỹ thuật. + Cung cấp giải pháp di chuyển an toàn, hiệu quả, tiết kiệm chi phí tối ưu cho doanh nghiệp. + Ngoài ra robot vận chuyển còn còn làm tăng hiệu suất, tăng tính cạnh tranh cho doanh nghiệp.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÍ THUYẾT 2 2. Thu phát sóng RF (Radio Frequency). Trong viễn thông, sóng mang, tín hiệu sóng mang hay chỉ là sóng mang, là một dạng sóng (thường là hình sin) được điều chế (sửa đổi) với tín hiệu mang thông tin nhằm mục đích truyền tải thông tin. Sóng mang này thường có tần số cao hơn nhiều so với tín hiệu đầu vào.
Tần số của kênh RF được hiểu đúng nhất là tần số của sóng mang. Sóng mang là sóng thuần có tần số không đổi, hơi giống sóng sin. Bản thân nó không mang nhiều thông tin mà chúng ta có thể liên quan đến (chẳng hạn như lời nói hoặc dữ liệu). Biểu thị sóng mang (sóng RF) Để bao gồm thông tin lời nói hoặc thông tin dữ liệu, cần phải đặt một sóng khác (được gọi là tín hiệu đầu vào) lên trên sóng mang.
Quá trình áp đặt tín hiệu đầu vào lên sóng mang được gọi là quá trình điều chế. Nói cách khác, điều chế thay đổi hình dạng của sóng mang để mã hóa bằng cách nào đó lời nói hoặc thông tin dữ liệu mà chúng ta muốn mang theo. Điều chế giống như ẩn một đoạn mã bên trong sóng mang. - Bất kỳ sóng nào cũng có ba tính chất cơ bản: + Biên độ - chiều cao của sóng.
+ Tần số - một số sóng truyền qua trong một giây nhất định. + Pha - trong đó pha ở bất kỳ thời điểm nào. Có nhiều cách khác nhau để điều biến sóng mang. Đầu tiên, người dùng có thể điều chỉnh chiều cao của sóng mang.
Nếu cường độ của tín hiệu đầu vào thay đổi theo độ lớn của giọng nói của người dùng và sau đó thêm tín hiệu này vào sóng mang, thì biên độ của sóng mang sẽ thay đổi tương ứng với tín hiệu đầu vào được đưa vào đó. Đây được gọi là điều chế biên độ hoặc AM (Amplitude Modulation). Điều chế biên độ hoặc AM Tần số của tín hiệu đầu vào cũng có thể được thay đổi. Nếu tín hiệu đầu vào này được thêm vào sóng mang thuần, do đó nó sẽ làm thay đổi tần số của sóng mang.
Bằng cách đó, người dùng có thể sử dụng các thay đổi của tần số để mang thông tin giọng nói. Đây được gọi là điều chế tần số hoặc FM (Frequency Modulation). Điều chế tần số hoặc FM Hai chiến lược này có thể được kết hợp để tạo ra một sơ đồ thứ ba. Trên thực tế, bất kỳ chiến lược nào kết hợp tín hiệu đầu vào với sóng mang để mã hóa giọng nói hoặc thông tin hữu ích khác được gọi là sơ đồ điều chế.
Các sơ đồ điều chế có thể là tương tự hoặc kỹ thuật số. Sơ đồ điều chế tương tự có sóng đầu vào thay đổi liên tục giống như sóng sin. Trong sơ đồ điều chế kỹ thuật số, nó phức tạp hơn một chút. Giọng nói được lấy mẫu ở một số tốc độ và sau đó được nén và chuyển thành một luồng bit - một luồng gồm các số 0 và 1 - và điều này đến lượt nó được tạo thành một loại sóng cụ thể sau đó được chồng lên sóng mang.
- Anten Anten được định nghĩa là “phần của hệ thống truyền hay nhận được thiết kế để bức xạ hay nhận sóng điện từ”. Nói cách khác, anten lấy tín hiệu RF (được sinh ra bởi radio) và bức xạ nó vào trong không khí hay anten có thể nhận sóng điện từ cho radio. - Có hai chức năng trong một hệ thống thông tin liên lạc: 4 + Khi kết nối với máy phát, nó thu thập các tín hiệu AC và gửi thẳng. + Hoặc phát xạ sóng RF đi theo mô hình cụ thể cho từng loại ăng-ten.
+ Khi kết nối với máy thu, anten lấy sóng RF mà nó nhận được và gửi tín hiệu AC cho máy thu. +Việc truyền RF của một anten thường được so sánh hoặc tham chiếu đến một bộ bức xạ đẳng hướng. + Có hai cách để tăng công suất phát ra một Anten. +Tạo ra công suất mạnh hơn tại máy phát (không ưu tiên vì tốn kém).
+Truyền hoặc hội tụ tín hiệu RF được phát xạ từ anten. Sóng tín hiệu từ Anten Là sự biến thiên của độ khúc xạ, nhiễu xạ, phản xạ, là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến hiện tượng truyền dẫn đa đường mà kết quả của nó là tổn hao tín hiệu sóng. * Độ khuếch đại của anten: Độ khuếch đại anten là kết quả việc tập trung phát sóng vô tuyến vào một chùm hẹp hơn. Bằng việc giới hạn độ rộng chùm (beamwidth) tính theo độ ngang (horizontal) và độ dọc (vertical) mà vẫn giữ nguyên công suất phát sẽ cho một sóng vô tuyến được phát đi xa hơn.
- Có 3 chế độ truyền: Simplex (đơn công), half duplex (bán song công) và full duplex (song công toàn phần). Chế độ truyền xác định hướng của luồng tín hiệu giữa hai thiết bị được kết nối. Bảng so sánh giữa chế độ truyền đơn công và song công So sánh Simplex Half Duplex Full Duplex Hướng truyền tín Hai chiều, mỗi lần Hai chiều, đồng thời Đơn hướng hiệu theo một hướng theo hai hướng Bên gửi có thể gửi và Bên gửi có thể gửi Bên gửi chỉ có Gửi/Nhận thể gửi dữ liệu nhận dữ liệu, nhưng và nhận dữ liệu chỉ thực hiện được cùng một lúc 5 một hành động vào một thời điểm Chế độ truyền Tốt hơn chế độ Chế độ truyền tốt Hiệu suất kém nhất Simplex nhất Bàn phím và Ví dụ Bộ đàm Điện thoại màn hình * Bộ phận phát: Bao gồm bộ mã hóa và bộ phát ASK. Bộ mã hóa tạo địa chỉ có 8 bit và 4 bit.
Chúng ta có thể đặt địa chỉ bằng cách sử dụng công tắc DIP được kết nối trong bộ mã hóa A0 – A7. Trong trường hợp thiết lập 1 địa chỉ trong mạch phát, địa chỉ này sẽ được yêu cầu trong phần thu. Chính vì lý do nà nên phần máy thu và máy phát phải được đặt trong cùng một địa chỉ. * Bộ phận thu: Bộ phận thu cung được hoạt động ở mức 433,92 MHz và có độ nhạy cao.
Bộ thu ASK hoạt động từ 4,5 đến 5,5 VDC và có cả đầu ra tuyến tính và kỹ thuật số. Bộ phận thu sẽ được nhận dữ liệu từ máy phát. Sau đó, bộ giải mã sẽ giải mã dữ liệu và kích hoạt chân đầu ra tương ứng. Cơ chế hoạt động của dây chuyền sản xuất sử dụng PLC.
Bộ vi điều khiển, bộ vi xử lý, bộ xử lý tín hiệu số (DSP) và mạng truyền thông công nghiệp. Vi điều khiển. Là một máy tính được tích hợp trên một chip (single chip microcomputer) được tạo ra qua VLSI. Vi điều khiển cũng được gọi là bộ điều khiển nhúng bởi vì vi điều khiển và các mạch điện hỗ trợ được tích hợp hoặc nhúng vào thiết bị mà nó kiểm soát.
Vi điều khiển có nhiều bit khác nhau giống như vi xử lý (cho đến nay thì có các loại vi điều khiển 4bit, 8bit, 16bit, 32bit, 64bit và 128 bit). Cấu tạo trong của chip vi điều khiển 6 - Vi điều khiển thường chứa các linh kiện sau: + Bộ xử lý trung tâm (CPU). + Bộ nhớ truy cập ngẫu nhiên (RAM). + Bộ nhớ chỉ đọc (ROM).
+ Cổng đầu vào / đầu ra.