CHƯƠNG 1. Tổng quan chung về lãnh vực nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước - Trên thế giới đang diễn ra cuộc đua về sản phẩm thông minh. Trong xu hướng Internet kết nối vạn vật (Internet of Things - IoT), nhiều công ty cố gắng làm nhiều sản phẩm để giữ họ ở sâu trong cuộc chơi. Samsung năm ngoái tuyên bố rằng 90% sản phẩm của công ty sẽ được kết nối Internet vào năm 2017.
Nhờ kết nối Internet, người dùng có thể ra lệnh cho chiếc loa tìm kiếm và phát ra bản nhạc muốn nghe, smartphone có thể kết nối tất cả các vật dụng trong gia đình. Tập hợp các sản phẩm thông minh sẽ tạo ra ngôi nhà thông minh.1 Xu hướng phát triển nhà thông minh của thế giới - Tất cả các hãng công nghệ lớn như Google, Amazon, Apple và Samsung đều đang tìm cách tiến sâu hơn vào thị trường smarthome. Theo thống kê của Statista, năm 2020, giá trị thị trường của smarthome dự báo đạt 43 tỉ USD, gấp 3 lần so với năm 2014. Rõ ràng các khách hàng ngày càng yêu thích các ngôi nhà tự động hơn.
Thị trường Việt Nam cũng được đánh giá cao khi bất động sản nhà ở đang phát triển trong xu hướng tích cực và người dùng sẵn lòng chi nhiều tiền hơn cho nội thất, tiện ích, trong đó có các sản phẩm công nghệ. 2 - Tại Việt Nam, Bkav là công ty tiên phong giới thiệu công nghệ smarthome vào năm 2013, kèm theo tuyên bố đã mất 10 năm để đeo đuổi và hoàn thiện công nghệ này, gồm cả phần cứng thiết bị và phần mềm điều khiển thông minh. Tất cả các hệ thống thiết bị của ngôi nhà như chiếu sáng, cấp nước, điều hòa, âm thanh, truyền hình… đều được gắn các bộ điều khiển điện tử để có thể kết nối với Internet và điện thoại di động, cho phép chủ nhân điều khiển vật dụng từ xa hoặc lập trình cho thiết bị ở nhà hoạt động theo lịch. - Từng giới thiệu tại CES 2015 (Mỹ) và nhiều triển lãm công nghệ trên thế giới, hệ thống SmartHome của Bkav khiến người tiêu dùng trong nước chú ý hơn tới giải pháp thông minh cho ngôi nhà.
- Từ dấu ấn của Bkav, thị trường các thiết bị thông minh tại Việt Nam ngày càng phát triển. Dù chưa tiến tới khái niệm smarthome, nhiều doanh nghiệp trong nước cũng muốn mở rộng thị trường thiết bị tự động (home automation). Chẳng hạn, cuối năm 2016, một nhóm các bạn trẻ ở Đại học Bách Khoa TP.HCM quyết tâm phát triển ý tưởng từ dự án tốt nghiệp: "Điều khiển hệ thống điện trong nhà bằng điện thoại Android". Kết quả là tháng 4 năm ngoái, Công ty Cổ phần Vsmarttek ra đời ở Khu Công nghệ cao TP.
Vsmarttek đang chập chững đi lại con đường mà những người khởi nghiệp cùng lĩnh vực ở Đại học Bách Khoa Hà Nội đã từng trải qua với các sản phẩm thiết bị tự động thương hiệu Lumi. Hay mới đây Onsky, một công ty tư nhân có trụ sở tại Thung lũng Silicon (Mỹ), cũng tung ra loạt sản phẩm thông minh trong nhà, phần cứng và phần mềm do các kỹ sư Việt Nam thiết kế. Dây chuyền sản xuất thiết bị smarthome của Bkav. - Sự tham gia của Vsmarttek, Onsky hay Lumi cho thấy nhu cầu khá cao trong thị trường home automation, đáp ứng trải nghiệm của nhiều khách hàng về hệ thống các thiết bị tự động trong nhà.
Ưu thế của các giải pháp này là chi phí phù hợp với nhu cầu của người dùng tại Việt Nam, chỉ với khoảng 9-40 triệu đồng. - Ngoài các doanh nghiệp trên, thị trường có nhiều thương hiệu nước ngoài như Schneider, Smartg4, Arteor, My Home, WattStopper. Đồng thời, cũng có không ít sản phẩm có xuất xứ từ Đài Loan, Trung Quốc với giá rẻ, cung cấp các thiết bị chiếu sáng tự động bằng cảm biến, công tắc thông minh, đến các gói giải pháp điều khiển thiết bị đèn, quạt, điều hòa. - Trước sự đa dạng về chất lượng và giá cả, người dùng lại khá bối rối khi lựa chọn giải pháp cho smarthome.
Theo ông Vũ Thanh Thắng, Phó Chủ tịch phụ trách phần cứng Bkav, thị trường smarthome không hẳn đang ở trong tình trạng "loạn" mà tách biệt rõ giữa smarthome và home automation. Điều này tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng. "Hệ thống smarthome đúng nghĩa chứa đựng rất nhiều công nghệ hiện đại, thiết bị cao cấp… gồm cả phần cứng và phần mềm. Trong đó có cả trí tuệ nhân tạo để đáp ứng được đòi hỏi độ thông minh của ngôi nhà", ông Thắng giải thích.
- Đầu tư cho giải pháp smarthome hay home automation tùy thuộc vào nhu cầu của khách hàng. Thực tế, giá cả là một rào cản lớn đối với các sản phẩm smarthome không riêng gì ở Việt Nam. Theo khảo sát năm 2016 của Buzz, 2 nguyên nhân lớn khiến gia chủ ở Mỹ không sử dụng smarthome là vì không có hứng thú (37%) và quá đắt (31%), tiếp theo là nhu cầu riêng tư (21%). Mục tiêu đề tài - Xây dựng phần cứng và phần mềm hệ thống nhà thông minh điều khiển, giám sát thiết bị từ xa.
- Nhận dạng giọng nói điều khiển thiết bị bằng laptop, smart phone qua internet. - Hoàn thành mô hình hệ thống nhà thông minh. Nhiệm vụ và giới hạn của đề tài - Nghiên cứu về giao thức truyền dữ liệu. - Nghiên cứu sử dụng module wifi ESP32 và ứng dụng giao thức truyền dữ liệu giữa ESP32, smart phone và máy tính.
4 - Thiết kế và thực hiện ứng dụng điều khiển, giám sát bằng giọng nói trên smart phone và máy tính. - Xây dựng mô hình hệ thống nhà thông minh điều khiển và giám sát bằng laptop, smart phone qua internet. Tổng quan về giao thức MQTT (Message Queuing Telemetry Transport) 2. Giới thiệu về MQTT: - MQTT được phát triển bởi IBM và Eurotech, phiên bản mới nhất là MQTT 3.1 - MQTT (Giao vận tầm xa) là giao thức truyền message theo mô hình cung cấp/thuê bao publish/subcribe.
MQTT dựa trên một Broker (điểm trung gian) “nhẹ” (khá ít xử lý), và được thiết kế có tính mở (không đăng trưng cho ứng dụng nào), rất đơn giản và dễ để tích hợp. MQTT phù hợp cho các ứng dụng M2M(Mobile to mobile), WSN (Wireless Sensor Networks) hay IoT (Internet of Things). Những đặc trưng này khiến MQTT rất lý tưởng để sử dụng trong các môi trường bị giới hạn tài nguyên như: - Những nơi mà giá mạng quá đắt hoặc băng thông thấp, hoặc độ tin cậy thấp - Khi chạy trên một thiết bị nhúng bị giới hạn về tài nguyên tốc độ và bộ nhớ - Các đặc trưng chính của giao thức bao gồm: - Dạng truyền message cung cấp/thuê bao (publish/subcribe) cung cấp việc truyền tin phân tán 1-nhiều - Việc truyền message là luôn không quan tâm đến nội dung truyền - Dựa trên nền TCP/IP để cung cấp đường truyền – Có 3 loại QoS được đưa ra: + “Hầu như chỉ 1 lần “ : “At most once”, message được truyền nhận dựa hoàn toàn vào tính tin cận của TCP/IP. Việc mất hoặc lặp message có thể xảy ra.
Ở QoS này, có thể ví dụ 1 trường hợp sử dụng: như trong môi trừong sensor mà việc mất 1 gói dữ liệu tại 1 thời điểm không ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình. + “Ít nhất 1 lần” : “At least once”, các message được đảm bảo nhận được nhưng có thể xảy ra lặp + “Chính xác chỉ 1 lần” : “Exactly once”, message được đảm bảo đến nơi đúng 1 lần. Ở level này, các hệ thống thanh toán, nơi mà việc lặp hay mất message có thể gây ra việc tính tiền bị sai. - Dữ liệu bao bọc dữ liệu truyền (overhead) nhỏ (độ dài cố định luôn là 2 byte), and là gia thức giảm đến mức tối thiểu traffic đường truyền.
- Một cơ chế để thông báo đến các thuê bao khi đường truyền bị đứt bất thường, sử dụng Last Will và Testament feature. Ví dụ về kết nối trong mạng lưới MQTT - Light sensor liên tục gửi dữ liệu về broker. - Ứng dụng điều khiển tòa nhà nhận dữ liệu từ broker để quyết định trạng thái các thiết bị trong nhà. - Ứng dụng gửi tín hiệu điều khiển actor node thông qua broker Hình 2.
gửi tín hiệu điều khiển actor node thông qua broker 7 2. Đặc điểm của MQTT - Truyền tin nhắn với tốc độ cao và có thế truyền trong môi trường có tín hiệu yếu. - Mô hình truyền thông không đồng bộ - Dung lượng thấp (Khoảng 2 bite) cho các ứng dụng băng thông mạng thấp - Sử dụng theo hình thức Publish / Subscribe (PubSub). - Truyền dữ liệu từ Publisher với Subcriber thông qua các Topics (message queues) - Giao thức đơn giản nhưng có thể sử dụng trong những môi trường phức tạp, bị nhiễu (Ví dụ: VSN- Wireless Sensor Networks: Mạng cảm biến không dây) - Có thể làm việc khi mạng bị gián đoạn.
Mô hình truyền thông của MQTT 2. Nguồn gốc và tương lai của MQTT Nhìn lại lịch sử, con người đã chứng kiến 3 cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn: Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ nhất (từ 1784) xảy ra khi loài người phát minh động cơ hơi nước, tác động trực tiếp đến các ngành nghề như dệt may, chế tạo cơ khí, giao thông vận tải. Động cơ hơi nước được đưa vào ôtô, tàu hỏa, tàu thủy, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân loại. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ hai (từ 1870) đến khi loài người phát minh ra động cơ điện, mang lại cuộc sống văn minh, năng suất tăng nhiều lần so với động cơ hơi nước.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ ba (từ 1969) xuất hiện khi con người phát minh ra bóng bán dẫn, điện tử, kết nối thế giới liên lạc được với nhau. Vệ tinh, máy bay, máy tính, điện thoại, Internet… là những công nghệ hiện nay chúng ta thụ hưởng là từ cuộc cách mạng này. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra từ những năm 2000 gọi 8 là cuộc cách mạng số, thông qua các công nghệ như Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI), thực tế ảo (VR), tương tác thực tại ảo (AR), mạng xã hội, điện toán đám mây, di động, phân tích dữ liệu lớn (SMAC). để chuyển hóa toàn bộ thế giới thực thành thế giới số.
Năm 2013, một từ khóa mới là “Công nghiệp 4.0) bắt đầu nổi lên xuất phát từ một báo cáo của chính phủ Đức đề cập đến cụm từ này nhằm nói tới chiến lược công nghệ cao, điện toán hóa ngành sản xuất mà không cần sự tham gia của con người. Thủ tướng Đức Angela Merkel tiếp tục nhắc tới Industrie 4.0 tại Diễn đàn Kinh tế thế giới ở Davos tháng 1/2015. Hiện nay, Công nghiệp 4.