CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DẠY HỌC THEO LÝ THUYẾT NHẬN THỨC LINH HOẠT 1. CÁC KHÁI NIỆM SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 1. Thiết kế dạy học Theo từ điển Tiếng Việt, “Thiết kế là lập tài liệu kĩ thuật toàn bộ, gồm có: bản tính toán, bản vẽ, … để có thể theo đó mà xây dựng công trình, sản xuất thiết bị, sản phẩm, …” [21]. Theo quan điểm của tiếp cận nhân văn trong dạy học, “Dạy học là hoạt động cùng nhau của người dạy và người học, là hoạt động có chung lý tưởng, động cơ, mục đích xa, mục đích gần, có cùng thao tác, hành động, hoạt động nối tiếp nhau, cả thầy và trò đều là chủ thể của hoạt động này” [3, tr.
Tuy nhiên, trong thực tế dạy học, HĐ dạy của thầy và hoạt HĐ học của trò đều nằm trong mối quan hệ tương tác qua lại với các yếu tố khác của QTDH, như: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện và kiểm tra đánh giá. Vì vậy, dạy học là một quá trình bao gồm các yếu tố cơ bản, như: mục tiêu dạy học, giảng viên, sinh viên, chương trình và nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện và kiểm tra đánh giá. Mỗi yếu tố có vai trò riêng và vận động theo quy luật chung của toàn hệ thống. Trong đó, mục tiêu đóng vai trò định hướng và chi phối [12, tr.
Từ những phân tích trên, thiết kế dạy học trong đề tài có thể được hiểu như sau: Thiết kế dạy học là lập phương án tổ chức quá trình dạy học theo mục tiêu dạy học. Phương án dạy học Theo từ điển Tiếng Việt, “Phương án là dự kiến về cách thức, trình tự tiến hành công việc trong điều kiện, hoàn cảnh nhất định nào đó” [21]. Vì vậy, phương án dạy học trong đề tài này có thể được hiểu như sau: Phương án dạy học là dự kiện về cách thức, trình tự tổ chức quá trình dạy học diễn ra trong không gian lớp học. Nhu cầu học tập của người học Theo mối quan hệ giữa các yếu tố trong việc lập kế hoạch dạy học cho các khóa học theo hình thức HTLH của Natalie Brown (2006), nhu cầu học tập của người học là sự kết hợp giữa nhu cầu về kiến thức, kỹ năng và những hiểu biết cần thiết mà người học muốn đạt được (học những gì?) với nhu cầu về cách thức tiếp thu nội dung học tập (học bằng cách nào?) và nhu cầu về địa điểm, thời gian diễn ra hoạt động học tập (học ở đâu, khi nào?) [15].
Trong đó, nhu cầu về nội dung học tập là thành phần được xác định trước dựa vào mục tiêu, trình độ và kinh nghiệm đã có của người học. Sau đó, họ lựa chọn cách thức, địa điểm và thời gian học tập phù hợp. Vì vậy, nhu cầu học tập của người học có thể được hiểu như sau: Nhu cầu học tập của người học là nhu cầu về nội dung, cách thức, địa điểm và thời gian học tập của một người học hoặc một nhóm người học. LÝ THUYẾT NHẬN THỨC LINH HOẠT Lý thuyết nhận thức linh hoạt (Cognitive Flexibility Theory) đã được phát triển bởi Spiro and Jehng (1990), dựa trên lý thuyết học tập nhận thức và các nghiên cứu triết học của Wittgenstein.
Theo các tác giả, nhận thức linh hoạt là khả năng cấu trúc lại các thành phần của kiến thức đã được người học tìm kiếm từ nhiều nguồn khác nhau, bằng nhiều cách thức khác nhau một Luan van 10 cách hợp lý, phù hợp với các nhu cầu hiểu biết nhất định hoặc giải quyết một tình huống có vấn đề của chính bản thân người học [18]. Các nguyên tắc cơ bản của Lý thuyết nhận thức linh hoạt là [13]: - Liên hệ các kiến thức cần thiết vào trong nhiệm vụ học tập. - Nội dung dạy học nên được dựa trên bối cảnh của kiến thức và tránh đơn giản hóa. - Dạy học phải dựa trên vấn đề (sự phá bỏ cấu trúc để xây dựng lại cấu trúc mới của kiến thức).
- Liên kết giữa các thành phần của kiến thức đã được quy định và giải thích rõ ràng. Vì vậy, bản chất của Lý thuyết nhận thức linh hoạt là Lý thuyết kiến tạo được vận dụng vào quá trình học tập để khắc phục những khó khăn trong việc tiếp thu kiến thức có tính chất phát triển (kiến thức chuyên sâu). Ở giai đoạn học tập phát triển, người học cần phải đạt được những hiểu biết sâu sắc về các nội dung học tập, các vấn đề có liên quan và vận dụng các nội dung này một cách linh hoạt trong những bối cảnh khác nhau. Đây chính là giai đoạn học tập mà người học gặp nhiều khó khăn hơn trong quá trình tiếp thu và chuyển hóa kiến thức thành kinh nghiệm bản thân do tính chất phức tạp và bất thường của nội dung học tập.
Lý thuyết nhận thức linh hoạt cho thấy, mục đích của các phương pháp hay kỹ thuật dạy học là nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người học làm chủ kiến thức ở các mức độ học tập phức tạp hơn, tránh sự đơn giản trong hướng dẫn vận dụng hay chuyển hóa kiến thức, đồng thời cho phép quá trình học tập trở nên linh hoạt hơn. Chính vì vậy, Lý thuyết này đã được sử dụng trong các thiết kế dạy học dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin và hiệu quả của ứng Luan van 11 dụng này đối với các lĩnh vực kiến thức có cấu trúc khó và phức tạp đã được xác nhận qua một số công trình nghiên gần đây [13]. Nhận xét: Lý thuyết nhận thức linh hoạt cho thấy, nhận thức của người học có tính chất linh hoạt. Tính linh hoạt của nhận thức không chỉ thể hiện trong cách trình bày hay mô tả tri thức mà còn thể hiện cả trong những hành động xử lý diễn ra trên những biểu tượng và giá trị tinh thần mà người học đã có [6].
Vì vậy, việc thiết kế dạy học theo Lý thuyết nhận thức linh hoạt được bắt đầu từ việc xác định nhiệm vụ học tập cụ thể cho từng người học hoặc từng nhóm người học. Từ đó, HĐ học của trò và HĐ dạy của thầy được thiết kế phù hợp với nhiệm vụ học tập và được thể hiện qua các yếu tố của QTDH. DẠY HỌC THEO LÝ THUYẾT NHẬN THỨC LINH HOẠT 1. Các cơ sở khoa học Ngoài Lý thuyết nhận thức linh hoạt như đã phân tích ở mục {1.2}, dạy học theo Lý thuyết nhận thức linh hoạt được phát triển còn dựa trên các cơ sở khoa học có liên quan, như: Lý thuyết kiến tạo, Lý thuyết đa thông minh, Lý thuyết học tập trải nghiệm và các yếu tố của quá trình dạy học.
Lý thuyết kiến tạo Lý thuyết kiến tạo (Construcktivism) được phát triển vào những năm 60 của thế kỷ 20. Với Piagiê và Vưgôtski là những đại diện tiên phong của Lý thuyết này [1, tr 41]. Tư tưởng nền tảng cơ bản của Lý thuyết kiến tạo là đặt vai trò của chủ thể nhận thức lên vị trí hàng đầu của quá trình nhận thức. Khi học tập, mỗi người học hình thành thế giới quan riêng của mình.
Tất cả những gì mà mỗi người học trải nghiệm thì sẽ được sắp xếp chúng vào trong "bức tranh toàn cảnh về thế giới" của riêng người đó, tức là tự kiến tạo riêng cho mình một bức tranh thế giới. Học tập theo Lý thuyết kiến tạo, người học phải Luan van 12 bắt đầu từ lý trí riêng và có thể làm điều này tốt hơn nếu không phải tuân theo một chương trình giảng dạy cứng nhắc, mà có thể tự mình điều chỉnh một cách thường xuyên quá trình học tập của chính mình. Nguyên tắc cơ bản của Lý thuyết kiến tạo là [1, tr 41]: - Tri thức được xuất hiện thông qua việc chủ thể nhận thức tự cấu trúc vào hệ thống bên trong của mình, vì thế tri thức mang tính chủ quan. - Với việc nhấn mạnh vai trò chủ thể nhận thức trong việc giải thích và kiến tạo tri thức, Lý thuyết kiến tạo thuộc lý thuyết định hướng chủ thể.
- Cần tổ chức sự tương tác giữa người học và đối tượng học tập, để giúp người học xây dựng thông tin mới vào cấu trúc tư duy của chính mình, đã được chủ thể điều chỉnh. - Học tập không chỉ là khám phá mà còn là sự giải thích và tái cấu trúc mới tri thức. Những đặc điểm cơ bản của học tập theo Lý thyết kiến tạo [1, tr 42]: - Tri thức được lĩnh hội trong học tập là một quá trình, môt sản phẩm kiến tạo theo từng cá nhân thông qua tương tác giữa người học với nội dung học tập. - Về mặt nội dung, dạy học phải định hướng theo những lĩnh vực hay vấn đề phức hợp, gần với cuộc sống, nghề nghiệp và được khảo sát một cách tổng thể.
- Việc học tập chỉ có thể được thực hiện trong hoạt động tích cực của người học, vì chỉ từ những kinh nghiệm và kiến thức mới của bản thân, mới có thể thay đổi và cá nhân hóa những kiến thức và kỹ năng đã có. - Học tập trong nhóm có ý nghĩa quan trọng, thông qua tương tác xã hội trong nhóm góp phần cho người học tự điều chỉnh sự học tập của bản thân. Luan van 13 - Học qua sai lầm là điều có ý nghĩa. - Nội dung học tập cần định hướng vào hứng thú người học, vì có thể tiếp thu dễ nhất từ những nội dung mà người ta thấy hứng thú hoặc có tính thách thức.
- Thuyết kiến tạo không chỉ giới hạn ở những khía cạnh nhận thức của việc dạy và học. Sự học tập hợp tác đòi hỏi và khuyến khích phát triển không chỉ có lý trí, mà cả về mặt tình cảm, thái độ và giao tiếp. - Mục đích học tập là kiến tạo kiến thức của bản thân, nên khi đánh giá các kết quả học tập không định hướng theo các sản phẩm học tập, mà cần kiểm tra những tiến bộ trong quá trình học tập và trong những tình huống học tập phức hợp. Lý thuyết kiến tạo ngày càng được chú ý trong những năm gần đây.
Với quan điểm người học là trung tâm của QTDH, Lý thuyết kiến tạo là cơ sở cho sự ra đời của nhiều quan điểm dạy học mới, như: học tập tự điều chỉnh, học tập với những vấn đề phức hợp, học theo tình huống, học theo nhóm, học qua sai lầm. Các quan điểm dạy học tích cực này được nhấn mạnh nhiều hơn vào dạy học định hướng quá trình thay cho định hướng sản phẩm. Lý thuyết đa thông minh Lý thuyết đa thông minh (Multiple Intelligences Theory) được phát triển bởi nhà tâm lý học Howard Gardner vào năm 1983 [16, tr 5 – 12].