đặt vấn đề phát triển tự học ngay trong nhà trường phổ thông. Sinh học là môn khoa học gắn lý thuyết với thực hành có nhiều khái niệm, quá trình sinh học khó và trừu tượng. Chương trình sinh học lớp 12 1 z gồm ba phần lớn: di truyền, tiến hóa và sinh thái. Trong đó phần di truyền, tiến hóa được phân phối về thời gian chiếm tỷ lệ lớn.
Và đây cũng là phần trọng tâm cho các kỳ thi quốc gia. Hiện nay, việc thiết kế bài giảng và tổ chức quá trình dạy học phần di truyền tiến hóa vẫn nặng tính áp đặt, chưa thực sự tạo động cơ, khơi gợi sự hứng thú cho người học. Do đó việc phát huy năng lực tự học cho người học trong quá trình dạy học phần di truyền tiến hóa chương trình sinh học 12 càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi đã chọn vấn đề: “Thiết kế bài giảng phần di truyền, tiến hóa chương trình sinh học 12 trung học phổ thông theo hướng phát huy năng lực tự học tự nghiên cứu của học sinh” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu Thiết kế bài giảng theo hướng hình thành kĩ năng tự học tự nghiên cứu trong dạy học sinh học 12 góp phần đổi mới PPDH bộ môn Sinh học ở trường THPT. Phạm vi nghiên cứu Đề tài được triển khai trên cơ sở nghiên cứu, phân tích nội dung chương II (phần năm Di truyền học), chương II (phần sáu Tiến hóa) – Sinh học 12 – THPT. Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu - Khách thể Học sinh lớp 12 và giáo viên trường THPT Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Nội. - Đối tƣợng Quy trình thiết kế bài giảng để phát huy năng lực tự học tự nghiên cứu của học sinh.
Giả thuyết khoa học Việc thiết kế một số bài giảng phần di truyền, tiến hóa sinh học 12 theo hướng phát huy năng lực tự học cho học sinh sẽ giúp quá trình dạy học sinh học 12 hiệu quả, chất lượng, tạo được sự hứng thú cho HS. Nhiệm vụ nghiên cứu - Hệ thống hóa cơ sở lí luận về năng lực tự học tự nghiên cứu trong phần di truyền tiến hóa sinh học 12 đề xuất những biện pháp hình thành kĩ năng tự học tự nghiên cứu. - Tìm hiểu thực trạng tổ chức các hoạt động dạy học với mục tiêu rèn luyện kĩ năng ở trường THPT hiện nay. - Xây dựng hệ thống bài giảng theo hướng phát huy năng lực tự học tự nghiên cứu.
- Thực nghiệm sư phạm nhằm xác định hiệu quả của các biện pháp rèn luyện kĩ năng tự học tự nghiên cứu đã đề xuất. Phƣơng pháp nghiên cứu 7. Phương pháp nghiên cứu lý thuyết - Nghiên cứu các tài liệu: + Nghị quyết của Đảng, Nhà nước, Bộ giáo dục và đào tạo về đổi mới PPDH theo hướng phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS. + Lý luận dạy học sinh học.
+ Các luận văn thạc sĩ có liên quan. + Tài liệu hướng dẫn chuyên môn. - Nghiên cứu phân tích cấu trúc, và nội dung chương trình Sinh học 12 THPT đặc biệt là phần Di truyền, tiến hóa kết hợp với nghiên cứu các tài liệu chuyên môn khác về Di truyền, tiến hóa để tìm ra bài giảng thiết kế phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS. Phương pháp điều tra, quan sát sư phạm - Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp hướng dẫn HS tự học trong DH sinh học của GV THPT.
- Sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu phương pháp học tập môn sinh học 12 của HS THPT. - Trực tiếp dự giờ, thăm lớp, kiểm tra kết quả tự học của HS. - Quan sát sư phạm để kiểm tra hứng thú, mức độ tích cực của HS. Phương pháp thực nghiệm sư phạm Triển khai thực nghiệm các bài giảng nhằm đánh giá tính khả thi và kiểm tra hiệu quả của các bài giảng được thiết kế để rèn năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS qua dạy học phần Di truyền và Tiến hóa.
Phương pháp xử lí số liệu a. Đóng góp mới của đề tài - Hệ thống hóa cơ sở lí luận về việc thiết kế bài giảng theo hướng phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu của HS. - Xác định được các năng lực tự học sinh học 12 của học sinh THPT. - Xác định một số hướng thiết kế bài giảng để phát huy năng lực tự học.
tự nghiên cứu sinh học 12 THPT thông qua dạy học phần Di truyền và Tiến hóa. - Thiết kế một số giáo án phần di truyền tiến hóa theo hướng phát huy năng lực tự học, tự nghiên cứu cho học sinh 12 THPT. 4 z Chƣơng 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Lịch sử nghiên cứu Trên thế giới Từ những năm trước công nguyên, các nhà tư tưởng Trung Quốc như Khổng Tử, Mạnh Tử có những tư tưởng trong DH phải quan tâm tới việc kích thích suy nghĩ của người học, người học phải tự suy nghĩ chứ không nên nhắm mắt làm theo sách [7].
Thế kỉ 17 – 18, ở các nước Châu Âu các nhà GD nổi tiếng như Coomenski, J J Rousseau cũng đã có những quan điểm phải đưa ra những biện pháp DH hướng HS tìm tòi suy nghĩ, khám phá, sáng tạo, tích cực tự đánh giá kiến thức. Những quan điểm này chỉ rõ: không cho HS kiến thức có sẵn mà cần phải cho HS tự phát minh ra, tự bồi dưỡng tinh thần độc lập trong quan sát, đàm thoại và trong việc ứng dụng vào thực tiễn [32]. Cuối thế kỉ 19, đầu thế kỉ 20, việc tổ chức cho HS học tập theo hướng tích cực hóa đã hình thành và phát triển, với những quan điểm công trình nghiên cứu có quy mô lớn ở các nước Châu Âu và Mỹ. Nhiều nhà GD ở các nước trên thế giới đã thấy rằng việc DH phải kích thích được hứng thú, sự độc lập tìm tòi, phát huy sáng tạo của học sinh, thầy giáo chỉ là người thiết kế, người cố vấn [33].P Xtơrozicozin trong tác phẩm “Tổ chức quá trình dạy học trong trường phổ thông” cũng đã trình bày những nghiên cứu của mình về vai trò của HS trong việc tự học, vị trí của tự học trong học tập, phương pháp tổ chức tự học, những nguyên tắc, điều kiện cho tự học có hiệu quả [32].
5 z Ở Hoa Kì, ý tưởng DH cá nhân hóa ra đời trong những năm 1970 đã được thử nghiệm tại gần 200 trường. GV xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướng dẫn để HS tiến hành công việc độc lập theo nhịp độ phù hợp với năng lực [32]. Ở Việt Nam GS Nguyễn Cảnh Toàn trong tác phẩm “Học và dạy cách học” đã đề cập đến vai trò của người học, người dạy và mô hình tự học. Từ năm 1977 – 1987, dưới sự chủ trì của ông, tập thể các nhà KH đã nghiên cứu và triển khai chương trình “tự học có hướng dẫn kết hợp với thực tập dài hạn ở trường phổ thông” [39].
Tác giả Trần Bá Hoành với “ Kĩ thuật dạy học sinh học” đã đề cập phải chủ yếu rèn luyện phương pháp tự học. Đó là năng lực cần thiết giúp cho HS có thể học tập suốt đời [11]. Tác giả Nguyễn Kì với “Biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” đã đề ra nguyên tắc và các bước tổ chức HS tự học [7]. Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Bích Ngọc (2008): Sử dụng câu hỏi, bài tập để rèn năng lực tự học sách giáo khoa sinh học THPT qua dạy phần “sinh học tế bào” – Sinh học 10 – THPT.
Trong tất cả các kết quả nghiên cứu của mình, các tác giả đều khẳng định: cần phải đưa ra biện pháp tích cực để tổ chức HS tự học. Khái niệm về năng lực tự học 1.1 Khái niệm tự học Theo Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình động não, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp…) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biết biến khó khăn thành thuận lợi) để chiếm lĩnh một 6 z lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành sở hữu của mình” [39]. Theo tác giả Lưu Xuân Mới: “Tự học là hình thức hoạt động nhận thức của cá nhân nhằm nắm vững hệ thống tri thức và kĩ năng do chính bản thân người học tiến hành ở trên lớp hoặc ngoài lớp theo hoặc không theo chương trình và SGK đã được quy định” [31]. Theo tác giả Nguyễn Như An: “Tự học, tự đào tạo, tự lực trong công tác học tập là yếu tố quan trọng và là nguyên nhân bên trong trực tiếp tác động đến chất lượng đào tạo” [32].
Tự học có vai trò rất lớn trong GD nhà trường và trong cả cuộc sống người học. Tự học còn tạo điều kiện hình thành và rèn luyện khả năng hoạt động độc lập, sáng tạo của mỗi người, trên cơ sở đó tạo tiền đề và cơ hội cho họ học tập suốt đời. Xtơrozicôzin (1981) tổ chức cho HS tự học có các vai trò sau:[33] - Nâng cao tính tự giác và tính vững chắc trong việc nắm kiến thức của HS. - Rèn cho HS kĩ năng, kĩ xảo được quy định trong chương trình của mỗi bộ môn, phù hợp với mục đích của nhà trường.
- Dạy cho HS biết áp dụng các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo đã thu nhận được từ cuộc sống và lao động công ích. - Phát triển khả năng nhận thức của HS (tính quan sát, tính ham hiểu biết, khả năng tư duy lôgic, tích cực sáng tạo). - Luyện cho HS khả năng lao động có kết quả, biết say mê vươn tới mục đích đặt ra. - Chuẩn bị cho HS có thể tiếp tục tự học một cách có hiệu quả.
- Tự học là biện pháp tối ưu nhất làm tăng độ bền kiến thức của mỗi HS. Khái niệm về năng lực tự học Năng lực tự học được hiểu là khả năng HS tự khám phá được kiến thức, kĩ năng theo mục đích nhất định dưới sự hướng dẫn của GV. Theo Lê Công Triêm NLTH là khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao. Kết quả học tập cao hay thấp là phụ thuộc NLTH mỗi cá nhân.
Mỗi người có một cách học khác nhau. Cách học ở đây là cách tác động của người học đến đối tượng học.