mở đầu và kết luận, luận văn được cấu trúc thành 3 chương với các luận điểm chính như sau: Chƣơng 1: Thiên nhiên và Thiền trong thơ ca Nhật Bản 1. Thiên nhiên trong thi ca Nhật Bản 1. Thiền Nhật Bản trong văn hóa Nhật Bản 1. Sự ảnh hưởng của Thiền Nhật Bản đối với thi ca viết về thiên nhiên Nhật Bản Chƣơng 2: Cảm thức thiên nhiên trong thi văn Matsuo Bashô 2.
Thời đại của Matsuo Bashô và thơ haiku 2. Vẻ đẹp Nhật Bản trong các tập kỷ hành của Bashô Chƣơng 3: Đặc trƣng thơ Matsuo Bashô dƣới những quan niệm thẩm mỹ mang âm hƣởng Thiền 3. Sabi-cái đẹp sâu lắng của nỗi cô đơn 3. Wabi-cốt tủy của cái đẹp giản dị trong những khoảnh khắc trực ngộ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Aware-nỗi buồn dịu nhẹ và vô thường 3. Karumi-cái đẹp nhẹ nhàng thanh thoát giữa cõi đời trong đục 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 THIÊN NHIÊN VÀ THIỀN TRONG THI CA NHẬT BẢN 1. Thiên nhiên trong thi ca Nhật Bản 1. Thiên nhiên trong thơ ca Thiên nhiên là tất cả những gì đang có xung quanh con người mà không do con người tạo ra.
Chẳng biết thiên nhiên ra đời như thế nào nhưng dường như đấng sáng tạo đã tạo ra một thế giới tồn tại không thể thiếu sự gắn kết của con người với thiên nhiên. Ngay khi cất tiếng khóc chào đời, con người đã được thiên nhiên bao bọc, chở che. Mẹ thiên nhiên ban phát cho chúng ta một bầu không khí trong lành để hít thở, cho chúng ta cái ăn cái mặc để duy trì cuộc sống… Cho đến lúc tạ thế trở về với cát bụi thì cũng là lúc thiên nhiên lại đón nhận thân xác chúng ta “cát bụi lại trở về với cát bụi”. Không ai sinh ra và tồn tại ngoài thiên nhiên, bởi vậy từ sâu trong tiềm thức và vô thức, con người đã hình thành nên những tư duy ứng xử với thiên nhiên.
Thiên nhiên không do nhân tạo, tồn tại độc lập với ý thức của con người, nhưng con người không vì thế mà chỉ biết đón nhận, biết hưởng thụ những gì thiên nhiên ban cho. Từ thời nguyên thủy, con người dường như sống hoàn toàn phụ thuộc vào thiên nhiên, lúc bấy giờ mối quan hệ thiên nhiên với con người rất rõ ràng. Theo dòng chảy lịch đại, con người tinh khôn dần hoàn thiện mình và bắt đầu biết sáng tạo. Khoa học ra đời với những phát minh vĩ đại đưa cuộc sống của con người sang một trang mới, từ đây con người ít phụ thuộc vào thiên nhiên hơn.
Cho đến một ngày khoa học kỹ thuật phát triển mạnh như vũ bão, con người đã thay thế cuộc sống ăn hang ở lỗ bằng những ngôi nhà ấm cúng với gió, ánh sáng nhân tạo, với những loại cây cỏ được ép sống trong chậu cảnh hay chim cá nhốt trong lồng. Sống trong một không gian nhân tạo chẳng khác gì tự nhiên, con người dường như ít quan tâm tới vai trò của thiên nhiên và tự tin vào năng lực sáng tạo thế giới của mình. Sự sai lầm này đã đưa con người đến một thảm họa mà ngày nay chính con người lại đang lao tâm khổ tứ đi tìm những giải pháp hòa giải nhằm xoa dịu những cơn “cuồng nộ” của thiên nhiên. Một bài học được rút ra là con người dù tài giỏi đến đâu cũng không thể thay thế được đấng sáng tạo.
Vì thế con người dù muốn hay 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không đều cần chung sống với thiên nhiên. Mối quan hệ tương tác giữa thiên nhiên và con người không mất đi và không thể thay thế được. Thiên nhiên gắn bó với sự sinh tồn của con người như một hằng số thì cũng như một lẽ tự nhiên nó đã tìm đường đến với đời sống tinh thần của con người. Người phương Tây cực đoan cho rằng con người chẳng có quan hệ gì với thiên nhiên ngoài việc ngắm nhìn và lợi dụng nó.
Ngược lại, người phương Đông cho rằng Thiên Nhân hợp nhất, con người và thiên nhiên tồn tại nương tựa vào nhau, tác động qua lại khăng khít với nhau. Cũng từ quan niệm này mà người phương Đông đón nhận thiên nhiên, yêu thiên nhiên và chung sống hài hòa với thiên nhiên. Như một lẽ thường tình, thiên nhiên từ cuộc sống sinh hoạt đã đi vào đời sống văn hóa tinh thần của con người. “Hoa không thể không có bướm, núi không thể không có suối, đá không thể không có rêu, nước không thể không có rong, cây lớn không thể không có dây leo, và người không thể không đam mê một thứ gì.
Thưởng hoa nên ngồi với giai nhân, uống rượu ngắm trăng nên ngồi với khách tao nhã, ngắm tuyết nên chung với cao sĩ. Đứng trên lầu mà ngắm núi, đứng trên thành mà ngắm tuyết, đứng trước đèn mà ngắm trăng, ngồi trong thuyền mà ngắm mây, đứng dưới trăng mà ngắm người đẹp, mỗi cảnh có mỗi tình. Đá ở bên gốc mai nên cổ kính, đá ở dưới gốc tùng nên thô, đá ở bên bụi trúc nên gầy, đá ở trong bồn nên đẹp. Có núi xanh thì có nước xanh, nước mượn sắc của núi, có rượu ngon thì có thơ hay, thơ cũng mượn cái thần của rượu”[48].
Vậy ra mọi thứ tồn tại đều có nguyên do của nó, thiên nhiên và con người sinh ra là vì nhau. Không có thiên nhiên thì con người không có sự sống, không có con người thì thiên nhiên cũng héo mòn vì thiếu tri kỷ. Con người với thiên nhiên như anh hùng với thuyền quyên, như giai nhân với tài tử vậy. Và trong mối tương giao ấy thơ ca ra đời.
Thơ ca là gì? Nó có phải là sản phẩm của mối tình vô thủy vô chung của con người với thiên nhiên? Không có tình nào không đi với cảnh, không có thơ nào không chứa tình, thế nên thơ không thể không có thiên nhiên. Người bình thường cũng biết thưởng ngoạn vẻ đẹp của thiên nhiên thì cớ gì một tâm hồn thi sĩ lại không rung, không động trước thiên nhiên. Huyền Quang khi tìm được chỗ trong sạch để nghỉ ngơi, hàng ngày “giúp nhà chùa đánh chuông và nhặt hoa rơi” cũng là lúc ông có được tâm trạng vui thích, 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com không bị trói buộc với bụi trần và được sống là chính mình. Cuộc sống thanh đạm, giản dị ấy đã đưa nhà thơ đến với thiên nhiên, tạo vật: Hơi mát thâu đêm lọt tới mành Cây sân xào xạc báo thu thanh Bên lều quên bẵng hương vừa tắt, Lưới bủa vầng trăng mấy khóm cành (Thu sớm) Nói đến cái tình với thiên nhiên, người ta luôn nhớ tới những vần thơ duyên nợ của Mạnh Hạo Nhiên: Đêm xuân một giấc mơ màng Tỉnh ra chim đã kêu vang quanh nhà Gió mưa một trận đêm qua Làm cho hoa rụng biết là dường bao (Xuân hiểu, bản dịch của Nguyễn Thế Nức) Trong cái “mơ màng” của đêm xuân, chủ thể ngủ nhưng tâm vẫn thức.
Tiếng gọi của thiên nhiên khiến nhà thơ tỉnh giấc. Sự tỉnh thức ở đây chính là sự trả lời của thi sĩ trước thiên nhiên. Nếu thiếu đi tình yêu thiên nhiên thì làm sao có được tiếng nói hoà điệu với thiên nhiên như thế. Không khí giao cảm ấy càng được hiển minh trong thơ Lý Bạch: Người đời đau khổ dường bao Là nơi đất khách lao đao đình này Gió xuân như cũng thấu hay Không cho cành liễu điểm đầy xanh non (Lao đao đình, bản dịch của Trúc Khê) Sự hô ứng vi diệu của cảnh với tình đã tạo nên nỗi buồn diệu vợi trong phút tống biệt.
Gió xuân như thấu tình người nên không nỡ tô thêm sắc xanh của ngày sinh ly. Thiên nhiên với tình người đã gặp nhau trong khoảnh khắc thăng hoa giao cảm. Độ giao cảm đạt đến cao độ khi đọc những vần thơ của Nguyễn Trãi: Hái cúc ương lan hương bén áo Tìm hoa đạp nguyệt tuyết xâm khăn Đàn cầm suối trong tai dội 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Còn một non xanh là cố nhân. (Thuật hứng) Nguyễn Trãi từng làm một nhà Nho hành đạo “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” giúp nước cứu đời, nhưng khi chính sự đã lặng sóng, thiên hạ đã thái bình thì ông lui về ở ẩn sống vui vầy với thiên nhiên, xa rời cuộc sống luồn cúi với cảnh: “hoa thì hay héo cỏ thường tươi”.
Những bài thơ của Nguyễn Trãi đầy ắp thiên nhiên, từ những thứ đơn giản nhất như “ao bèo”, rau muống…đến “một mai, một cuốc, một cần câu”… tất cả đều đi vào thơ ông thật giản dị và gần gũi. Thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi không phải là một khách thể đứng ngoài, đứng xa con người mà ranh giới giữa tình và cảnh dường như bị xoá nhoà để cho “hương bén áo”, cho “tuyết xâm khăn”. Thiên nhiên trong thơ ca phương Đông có điểm gặp gỡ nhau chính là ở “vật, ngã lưỡng vọng”. Nhật Bản nằm trong khu vực đó vì thế nghệ thuật thơ ca cũng không nằm ngoài mối giao cảm giữa con người với thiên nhiên.
Nhưng sự đón nhận thiên nhiên của người Nhật nói chung và các thi sĩ Nhật nói riêng lại có sự đặc sắc, vượt ra ngoài khuôn khổ của sự giao cảm thông thường. Thiên nhiên trong thơ ca Nhật Bản Kết quả của cuộc tình thơ mộng giữ nam thần Izanagi và nữ thần Izanami đã khai sinh ra xứ sở Phù Thang, một đảo quốc gồm gần bốn nghìn hòn đảo lớn nhỏ nối liền với nhau chạy dài từ Bắc xuống Nam tạo thành “một quần đảo dài hình con ngựa đang giằng sợi dây xỏ mũi để bay lên từ giữa biển khơi”. Với vị trí địa lý đặc biệt và cô lập ấy, Nhật Bản dường như sinh ra để đón ánh nắng mặt trời. Huyền thoại về đất nước này còn lưu truyền lại rằng tổ tiên của loài người nơi đây chính là con cháu của nữ thần Mặt Trời Amaterasu (Thái Dương Thần Nữ, hay Thiên Chiế u Đại Ngự Thầ n).
Trải qua lịch sử kiến tạo địa chất hàng nghìn năm, đất nước này vừa là nơi thiên nhiên thơ mộng trữ tình với núi Phú Sĩ phủ trắng tuyết, với những cánh hoa anh đào mỏng manh đón gió xuân, thì cũng chính nơi đây những trận động đất kinh hoàng, những ngọn núi lửa và sóng thần hoành hành dữ dội. Thiên nhiên tuyê ̣t đe ̣p và nhưng khắ c nghiê ̣t đã khiế n hầ u hế t người Nhâ ̣t mang tâm thế đă ̣c biê ̣t khi ứng xử v ới thiên nhiên. Người Nhật ưa chuộng thiên nhiên, gần gũi với thiên nhiên, sùng bái và tôn thờ nó nên họ có Thần đạo.