Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về thi hành án đối với các các bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng tại tỉnh Hưng Yên. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành các bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng tại tỉnh Hưng Yên. 12 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ THI HÀNH ÁN ĐỐI VỚI CÁC BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 1.
Khái niệm và hiệu quả của thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng 1. Khái niệm thi hành án đối với các bản án, quyết định của Tòa án về tín dụng ngân hàng. Theo Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật của Trường Đại học Luật Hà Nội thì “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của nhà nước”1. Pháp luật về thi hành án dân sự là một trong những bộ phận cấu thành nên hệ thống pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm pháp luật về thi hành án dân sự nói chung cũng như pháp luật về thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng nói riêng chúng ta cần tìm hiểu các khái niệm liên quan như: khái niệm thi hành án, khái niệm thi hành án dân sự. Từ điển Luật học có viết: “Thi hành án là hoạt động của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền được tiến hành theo thủ tục, trình tự được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực của tòa án”2. Liên quan đến khái niệm thi hành án có rất nhiều ý kiến khác nhau nhưng tựu chung lại có ba ý kiến cơ bản: - Ý kiến thứ nhất cho rằng: Thi hành án là một thủ tục hành chính bởi nó mang tính chấp hành và điều hành. - Ý kiến thứ hai cho rằng: Thi hành án là một thủ tục hành chính – tư pháp3.
Về bản chất thi hành án là dạng hoạt động chấp hành, quản lý và tiến hành theo phương pháp hành chính bắt buộc. Tuy vậy, thi hành án cũng là một dạng của hoạt động tư pháp vì căn cứ để thi hành là các bản án, quyết định của tòa án và thi hành án được thực hiện bởi các cơ quan tư pháp (theo nghĩa rộng). 1 Trưởng Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 209 2 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển luật học, Nxb Từ điển bách khoa và Nxb Tư pháp, Ha Nội, tr.
705 3 Lê Minh Tâm (2001) “Thử bàn mấy vấn đề về thi hành án “, tạp chí Luật học, (02), tr. 21-26 13 - Ý kiến thứ ba cho rằng: Thi hành án là một hoạt động tư pháp – hoạt động tố tụng4. Theo ý kiến này thì có xét xử thì phải có thi hành án. Thi hành án củng cố kết quả của công tác xét xử, bảo đảm hiệu lực của bản án, quyết định.
Qua nghiên cứu, học viên thấy ý kiến thứ nhất là có cơ sở hơn cả bởi thi hành án là hoạt động kết thúc quá trình tố tụng nhằm đảm bảo thực thi bản án, quyết định của tòa án. Mục đích của thi hành án là làm cho các bản án, quyết định của tòa án trở lên có hiệu lực trên thực tế. Theo Từ điển Luật học. Theo đó: “Thi hành án là giai đoạn kết thúc trình tự tố tụng, là khâu cuối cùng kết thúc một vụ án được xét xử nhằm làm cho phán quyết của Tòa án nhất định có hiệu pháp luật.
Vì vậy bản án sau khi có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh”5. Có thể nhận thấy thi hành án dân sự là hoạt động tư pháp do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành để làm cho các bản án, quyết định của tòa án về dân sự, kinh doanh thương mại, hôn nhân và gia đình, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính và các quyết định khác do cơ quan thi hành án dân sự thực hiện theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các cơ quan, tổ chức và cá nhân. Bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng được Tòa án ban hành theo thủ tục tố tụng dân sự. Theo nghiên cứu thì tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng là tình trạng pháp lý trong quan hệ hợp đồng tín dụng, mà ở đó các bên thể hiện sự xung đột hay bất đồng ý chí với nhau về những quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng tín dụng mà các bên không tự giải quyết được phải khởi kiện ra tòa án nhân dân để giải quyết.
Từ đó tòa án căn cứ vào hợp đồng tín dụng, xác định vi phạm, nghĩa vụ và phương thức giải quyết trong hợp đồng tín dụng để đưa ra phán quyết nhằm buộc bên vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ, bồi thường thiệt hại (nếu có) cho các ngân hàng. Từ những phân tích nêu trên, có thể hiểu thi hành án đối với các bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng là hoạt động tư pháp do cơ quan thi hành án dân sự tiến hành được thực hiện theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định để buộc cá nhân, tổ chức phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ, bồi thường thiệt hại cho các tổ chức tín dụng ngân hàng đã được xác định trong bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực 4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2004) giáo trình luật tố tụng hành chính, Nxb Tư pháp, Hà Nội, tr. 339 5 Từ điển luật học (1999), Nxb Tư pháp, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr. Từ cách tiếp cận trên đây, chúng ta có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của thi hành đối với các bản án, quyết định của tòa án về tín dụng ngân hàng như sau: Thứ nhất, tín dụng ngân hàng đề cao quyền tự định đoạt và thỏa thuận của các đương sự.
Do THA cho tổ chức tín dụng ngân hàng không chỉ liên quan đến người phải THA, người được THA mà còn là mối quan hệ giữa tổ chức tín dụng ngân hàng và khách hàng nên nguyên tắc xuyên suốt trong quá trình THA là tôn trọng quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đương sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Ngay từ khi bản án, quyết định có hiệu lực thi hành, người được THA có quyền quyết định về việc yêu cầu THA; thời điểm yêu cầu THA trong thời hiệu pháp luật quy định; các đương sự có quyền thỏa thuận về thời gian, biện pháp THA, cách thức xử lý tài sản; hoãn THA; lựa chọn tổ chức thẩm định giá, bán đấu giá tài sản; về miễn, giảm nghĩa vụ THA.Trên cơ sở các thỏa thuận, quyền tự định đoạt của các đương sự, trong quá trình THA, Chấp hành viên, cơ quan THADS có thể lựa chọn biện pháp thích hợp để việc THA nhanh chóng, hiệu quả (lựa chọn áp dụng biện pháp bảo đảm, biện pháp cưỡng chế THA; lựa chọn phương thức bán đấu giá tài sản…). Tuy nhiên, do đặc thù của THA tín dụng ngân hàng liên quan đến việc THA có giá trị lớn; khả năng thực hiện nghĩa vụ của người phải THA thấp do việc sử dụng các khoản vay trước đó không hiệu quả; quá trình THA liên quan nhiều đến đời sống, hoạt động sản xuất kinh doanh của người phải THA, nhất là doanh nghiệp, vì vậy trong quá trình THA cho tổ chức tín dụng ngân hàng, nguyên tắc tôn trọng quyền thỏa thuận và tự định đoạt của các đương sự càng phải được đề cao hơn và có thể coi là đặc điểm quan trọng của THA tín dụng ngân hàng. Thực tiễn cũng cho thấy rằng các việc THA tín dụng ngân hàng đều liên quan đến việc xử lý tài sản đảm bảo theo các hợp đồng tín dụng trước đó, do vậy hiệu quả THA cho tín dụng ngân hàng phụ thuộc nhiều vào quyền định đoạt và sự thỏa thuận của tổ chức tín dụng ngân hàng là người được THA với người phải THA trong những điều kiện cụ thể, nhất là trường hợp người phải THA là các doanh nghiệp (Tổ chức tín dụng ngân hàng có thể thỏa thuận với người phải THA về việc hoãn THA trong thời hạn nhất định; thỏa thuận về việc khai thác tài sản kê biên; thỏa thuận về tiến độ thanh toán 15 nợ; mua bán nợ.
Thứ hai, THA tín dụng ngân hàng để thu hồi các khoản nợ, bồi thường cho các tổ chức cho tổ chức tín dụng ngân hàng được thực hiện theo trình tự, thủ tục được quy định tại Luật THADS, bao gồm các trình tự, thủ tục như sau: Tiếp nhận đơn yêu cầu THA; ra quyết định THA; thông báo THA; xác minh điều kiện THA; áp dụng biện pháp bảo đảm và cưỡng chế THA; xử lý tài sản bảo đảm, tài sản đã cưỡng chế kê biên. Thứ ba, THA tín dụng ngân hàng liên quan đến việc áp dụng pháp luật ở nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. THA tín dụng ngân hàng liên quan đến việc thu hồi các khoản nợ, bồi thường cho tổ chức tín dụng ngân hàng theo các bản án, quyết định về kinh doanh thương mại trong nhiều hoạt động của đời sống xã hội, đặc biệt là sự đa dạng, phong phú về chủ thể là người phải THA (cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội) và tài sản đảm bảo THA (tàu bay, tàu biển, ô tô, quyền sử dụng đất, nhà ở, dây chuyền sản xuất, nhà xưởng, cổ phiếu, vốn góp.