Chương 1: TIỂU THUYẾT LÊ LỰU TRONG DÒNG CHẢY TIỂU THUYẾT VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI 1. Tiểu thuyết Việt Nam trước thời kỳ đổi mới Nền văn học Việt Nam là một nền văn học phong phú, đa dạng về thể loại. So với các thể loại như thơ hay truyện ngắn thì tiểu thuyết phát triển chậm hơn, tìm thấy hướng đi muộn hơn, nhưng những đóng góp của nó trong thời kỳ này vẫn không thể phủ nhận. Trong giai đoạn 1930 - 1945 qua những sáng tác của nhóm Tự lực văn đoàn và các nhà văn hiện thực chủ nghĩa, tiểu thuyết thực sự được quan tâm và phát triển khá mạnh mẽ.
Đến những năm 50 tiểu thuyết ngày càng khẳng định vị trí của mình trong nền văn học dân tộc. Nền văn học sau cách mạng tháng Tám gắn bó mật thiết với vận mệnh dân tộc. Nó hướng vào phục vụ những nhiệm vụ chính trị, theo sát những yêu cầu của từng giai đoạn cách mạng nên văn học giai đoạn này là một nền văn học mang đậm khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, nền văn học hướng về đại chúng. Cùng với các thể loại khác, tiểu thuyết giai đoạn này góp phần cổ vũ lòng yêu nước và tinh thần kháng chiến, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, phản ánh được hiện thực lịch sử dân tộc, xây dựng nên những nhân vật anh hùng cách mạng, kết tinh những phẩm chất của dân tộc và tinh thần của thời đại.
Thời kỳ này văn học đã thoát khỏi cái nhìn bế tắc về con người để hướng tới cái nhìn con người làm chủ vận mệnh đất nước, dân tộc và cả vận mệnh của chính mình. Với quan niệm này con người được thể hiện chủ yếu trong văn học là con người phơi phới lạc quan, dù gặp muôn ngàn khó khăn gian khổ nhưng cuối cùng nhất định chiến thắng. Đấy là những con người luôn luôn quên mình về sự nghiệp chung, quên mình vì nghĩa lớn, quên mình 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vì tập thể, là những con người đầy ý chí, nghị lực, đầy niềm tin với tấm lòng vì tổ quốc, vì nhân dân, vì lý tưởng xã hội chủ nghĩa. Điểm lại những thành tựu nổi bật của tiểu thuyết giai đoạn này, ta có thể thấy rằng, với quy mô rộng lớn của mình, tiểu thuyết thực sự đã phản ánh chân thực bức tranh rộng lớn của hiện thực cuộc sống thông qua những hình tượng điển hình trong những hoàn cảnh điển hình.
Khác với giai đoạn đầu thế kỷ XX, ở giai đoạn lịch sử hào hùng, mang âm hưởng và màu sắc sử thi này, con người tập thể, con người lý tưởng được đề cao hơn bao giờ hết. Nền văn học giai đoạn này nói chung và tiểu thuyết nói riêng dù sinh ra và lớn lên trong khói lửa chiến tranh nhưng lại vô cùng hào hùng và rực rỡ. Những Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy Tưởng, Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Người mẹ cầm súng của Nguyễn Thi, Hòn đất của Anh Đức, Bão biển của Chu Văn, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu…thực sự đã tái hiện thành công chủ nghĩa anh hùng cách mạng của con người Việt Nam trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù xâm lược, thống nhất nước nhà. Văn học thời kỳ này nói chung và tiểu thuyết nói riêng đã xứng đáng với sứ mệnh cao cả của một nền văn học cách mạng hướng về đại chúng nhân dân, phục vụ chiến đấu và đã đóng góp được những thành tựu xuất sắc, góp phần quan trọng cho sự phát triển văn học dân tộc trong thời đại mới.
Tiểu thuyết thời kỳ này đã ghi lại được những hình ảnh không thể phai mờ về một thời kỳ lịch sử đầy gian lao, hy sinh nhưng hết sức vẻ vang của dân tộc ta. Những hình tượng nghệ thuật cao đẹp về đất nước, về nhân dân, về các tầng lớp, thế hệ con người Việt Nam vừa giàu phẩm chất truyền thống dân tộc vừa đậm nét thời đại hiện lên chân thực, sinh động trên từng trang văn, ngọn bút. Những sáng tác của Nguyên Ngọc, Nguyên Hồng, Anh Đức, Nguyễn Khải, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Minh Châu…đã tạo nên những hình tượng đẹp đẽ và có chiều sâu về người lính, bộ đội, thanh niên xung phong, phụ nữ,… Hình 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tượng nhân vật quần chúng, hình ảnh những người lao động mới, của mọi tầng lớp nhân dân nổi lên với phẩm chất cơ bản là lòng yêu nước và căm thù giặc. Sự phản ánh hiện thực ấy đã ghi nhận những nét đẹp của đất nước và con người Việt Nam trong khói lửa chiến tranh.
Đấy không phải là vẻ đẹp cổ xưa hay ước lệ của thơ văn cổ, cũng không phải là vẻ đẹp đìu hiu đượm buồn của thơ mới mà là vẻ đẹp hào sảng, khỏe khoắn của con người “rũ bùn đứng dậy sáng lòa” (Đất nước - Nguyễn Đình Thi). Như vậy, văn học thời kỳ này đã vượt lên những mất mát đau thương, gác lại những cảm xúc nỗi buồn cá nhân để hướng đến khí thế hào hùng, hăng say đánh giặc, ngợi ca những thành tích, chiến công, những hành động tốt đẹp của con người trong chiến đấu, trong lao động, hướng tới một cuộc sống mới với con người mới, yêu mến chế độ, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng, tin tưởng vào tương lai của đất nước. Nhưng một nền văn học chỉ hướng đến cái chung, gạt đi cái riêng, ý thức cá nhân bị tan biến vào ý thức cộng đồng nên đời sống thế sự và riêng tư ít được quan tâm, thể hiện. Mặt khác, vì coi trọng việc phản ánh hiện thực trong phát triển cách mạng nên văn học thời kỳ này không đủ để bao quát toàn bộ sự phong phú và phức tạp của đời sống.
Hơn thế nữa, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn hoàn toàn chi phối về mặt đề tài và chủ đề của tác phẩm nên nó cũng hạn chế sự sáng tạo của người cầm bút, làm nghèo đi khả năng và sức mạnh của hư cấu tưởng tượng, hạn chế sự đa dạng của các thủ pháp nghệ thuật. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới Đại thắng mùa xuân 1975 đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, đồng thời cũng đưa tới một chặng đường mới của nền văn học Việt Nam. Trong suốt những năm tháng đấu tranh giành độc lập cho đất nước, nền văn học Việt Nam luôn đồng hành và gắn bó với vận mệnh của dân tộc, đi qua những bước thăng 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trầm và thực sự đã tạo ra những biến đổi sâu sắc, toàn diện, làm nên diện mạo của một giai đoạn văn học mới. Mặc dù giai đoạn văn học ấy cũng đang tiếp diễn, nhưng đến những năm đầu thế kỷ XXI đã đặt ra một nhu cầu tự đổi mới, người cầm bút cảm thấy không thể tiếp tục những lối viết như trước, mà cần hướng đến một sự đổi thay.
Khi bước vào một giai đoạn lịch sử - xã hội mới, cả nước đứng trước một yêu cầu “phải nhận thức nhiều vấn đề và tự nhận đường”. Sự thay đổi ấy đã tác động đến giới sáng tác. Cuối năm 1986, Đại hội Đảng lần tứ VI được tiến hành, đánh dấu sự đổi mới của Đảng về tư duy, nhận thức, trước hết ở quan niệm đề cao thái độ nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, phát huy tinh thần dân chủ, quyền làm chủ của nhân dân, chống sức ì và tính bảo thủ của quan niệm cũ, mở ra một bối cảnh mới cho sự sáng tạo. Đảng khuyến khích và yêu cầu văn nghệ sĩ cần có những thể nghiệm mạnh bạo và sáng tạo nghệ thuật ở loại hình cũng như các hình thức biểu hiện.
Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị (ngày 28.1987) yêu cầu: “Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng trong hoàn cảnh cách mạng khoa học, kỹ thuật đang diễn ra với quy mô và tốc độ chưa từng có trên thế giới và việc giao lưu giữa các nước và các nền văn hóa ngày càng mở rộng… nền văn hoá, văn nghệ nước ta cũng phải đổi mới, đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm”. Điều này đã tạo cho người cầm bút sự tự tin và mạnh dạn hơn trong những tìm tòi, sáng tạo nghệ thuật khi viết về đời sống, hiện thực, những tình huống, sự kiện xã hội. Văn học thời kỳ này cũng thể hiện sự đổi mới mạnh mẽ về tư duy nghệ thuật. Một hiện thực mới, một công chúng mới nên đòi hỏi một cách viết, cách nhìn nhận và phản ánh mới.
Sự đổi mới của các nhà văn trở thành tất yếu sống còn của chính họ. Văn học thời kỳ này vì thế không chỉ đổi mới ở phạm vi đề tài, mà còn đổi mới về tư duy nghệ thuật, về cảm hứng, cách viết… Giờ đây, những người cầm bút hiểu rõ hơn ai hết sứ mệnh của văn chương đối với 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cuộc sống. Thời kỳ đổi mới với những biến động phức tạp thực sự là mảnh đất lý tưởng cho sự sáng tạo của tiểu thuyết: “Thời nay rộng cửa, gợi được rất nhiều thứ để viết…cái hôm nay, cái ngổn ngang, bề bộn, bóng tối và ánh sáng, màu đỏ với màu đen, đầy rẫy những biến động, những bất ngờ, mới thật là một mảnh đất phì nhiêu cho các cây bút thả sức khai vỡ” (Nguyễn Khải) [41]. Trước hết có thể thấy rõ bước phát triển của văn học trên bình diện tư duy nghệ thuật.
Giờ đây văn chương không chỉ là sự ngợi ca, khâm phục mà còn là sự phân tích, lý giải các hiện tượng của hiện thực. Nếu trước đây chủ yếu cách nhìn đơn điệu, rạch ròi thiện ác, địch ta, cao cả, thấp hèn…thì giờ đây cách nhìn nhiều chiều hơn, đa diện và phức tạp hơn. Với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đã dấn thân vào hiện thực, đi vào tiêu điểm nóng hổi nhất của đời sống. Trong tác phẩm, họ đã ý thức cần phải bóc trần thế giới, phơi bày sự thật.
Nhiều cây bút đã nêu ra những mặt trái còn bị che khuất, lên án những lực lượng, những thói quen, nếp sống, cách hành xử lạc hậu lỗi thời, làm cản trở quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người cũng như sự phát triển của xã hội.