Tổng quan luận án
| Thuộc tính |
Thông tin chi tiết |
| Tên đề tài |
Thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay |
| Tác giả |
Đỗ Việt Hà |
| Người hướng dẫn khoa học |
GS. Trần Ngọc Đường |
| Cơ sở đào tạo |
Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội |
| Chuyên ngành |
Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật |
| Mã số chuyên ngành |
62 38 01 01 |
| Năm hoàn thành |
2013 |
| Hình thức tiếp cận |
Nghiên cứu định tính trong khoa học pháp lý |
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò là lực lượng chính trị duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, một tất yếu lịch sử được xác lập từ Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và được ghi nhận trong Hiến pháp. Tuy nhiên, trong điều kiện đẩy mạnh công cuộc đổi mới toàn diện, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQ XHCN), yêu cầu phân định rành mạch giữa sự lãnh đạo của Đảng cầm quyền và sự quản lý, điều hành của Nhà nước trở nên cấp thiết. Sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn bộ xã hội đã được Hiến định nhưng các quy định cụ thể của pháp luật về nội dung và phương thức lãnh đạo đối với từng cơ quan nhà nước, đặc biệt là Quốc hội, vẫn chưa được thể hiện rõ ràng và đồng bộ.
Thực tiễn đặt ra yêu cầu khắc phục tình trạng tổ chức Đảng bao biện, làm thay hoặc buông lỏng lãnh đạo, đồng thời nâng cao chất lượng hoạt động lập hiến, lập pháp, giám sát tối cao và quyết định các vấn đề hệ trọng của Quốc hội. Mặc dù có các nghiên cứu chung về phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, song vấn đề thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội vẫn là một khoảng trống học thuật chưa có công trình chuyên biệt đi sâu giải quyết. Do đó, luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống lý luận và thực tiễn này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam; từ đó đánh giá thực trạng và đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp nhằm hoàn thiện thể chế hoá và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về nội dung, phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
- Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã được xác lập, luận án đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp nhằm thể chế hoá sự lãnh đạo và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Quốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN.
- Phạm vi thời gian: Tập trung khảo cứu giai đoạn từ năm 1986 (khởi đầu công cuộc Đổi mới) đến năm 2013.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu mối quan hệ giữa Đảng và Quốc hội, tập trung chủ yếu vào chức năng lập pháp (bên cạnh các chức năng quyết định vấn đề quan trọng và giám sát tối cao).
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả đã tiến hành khảo cứu và tổng thuật 26 tài liệu khoa học trong và ngoài nước, phân thành 4 nhóm tài liệu trong nước và 1 nhóm tài liệu nước ngoài:
| Nhóm tài liệu |
Các công trình, tác giả tiêu biểu |
Nội dung trọng tâm |
| Văn kiện, nghị quyết của Đảng |
- Nghị quyết Hội nghị TW 8 (Khóa VII) - Nghị quyết Hội nghị TW 7 (Khóa VIII) - Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị TW 9 (Khóa IX) - Báo cáo của BCH TW Đảng tại Đại hội X |
Định hướng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước; khẳng định vai trò của Đảng đoàn Quốc hội; yêu cầu khắc phục tình trạng bao biện làm thay và cụ thể hóa phương thức lãnh đạo bằng văn bản, quy chế. |
| Đề tài khoa học cấp nhà nước |
- Đề tài KX.01 thuộc Chương trình KX.04 (GS.VS. Nguyễn Duy Quý chủ nhiệm) - Đề tài QX-96.10 (Trần Ngọc Liêu chủ trì; TS. Nguyễn Hàm Giá, NCS. Đinh Hữu Phí) |
Nghiên cứu cơ sở lý luận và đặc trưng NNPQ XHCN; khẳng định vị trí Đảng là chủ thể quản lý/lãnh đạo xã hội, phân tích phương thức lãnh đạo gắn với công cụ và hình thức tác động nhưng chưa đi sâu vào thiết chế Quốc hội. |
| Công trình sách chuyên khảo |
- TS. Nguyễn Trọng Thúc (2005) - PGS.TS. Nguyễn Trọng Phúc (2010) - GS.TS. Nguyễn Phú Trọng, PGS.TS. Tô Huy Rứa, PGS.TS. Trần Khắc Việt (đồng chủ biên, 2004) - Hội đồng Lý luận Trung ương (2011) - Nguyễn Khánh (2010) - Sách chuyên khảo "Quốc hội Việt Nam – Những vấn đề lý luận và thực tiễn" (2005) |
Phân tích tính tất yếu lãnh đạo của Đảng, mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân; nhận diện sự chậm đổi mới phương thức lãnh đạo do tàn dư thời chiến; làm rõ vai trò của Đảng đoàn Quốc hội và việc chuyển tải đường lối vào văn bản QPPL. |
| Bài báo khoa học trong nước |
- TS. Thang Văn Phúc (2007) - PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung (2009) - GS.TS. Trần Ngọc Đường (2010) - Trịnh Xuân Toản (2010) - Gs.TSKH. Đào Trí Úc (2011) - Đỗ Phú Thọ (2011) - Bùi Đức Lại (2011) |
Khái niệm phương thức lãnh đạo; yêu cầu Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; công tác bồi dưỡng đại biểu; hạn chế trong chuẩn bị luật và công tác nhân sự; xác định cơ chế "Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ". |
| Tài liệu nghiên cứu ngoài nước |
- TS. Đặng Đình Tân, TS. Đặng Minh Tuấn (đồng chủ biên, 2012) - Viện Nghiên cứu Trung Quốc (2010) - Doãn Trung Khanh (2012) - Trần Quang Minh (2011) - Lương Văn Kê (2009) - Dương Văn Quảng (2007) |
Khảo cứu thể chế đảng cầm quyền tại Mỹ, Đức, Nga, Nhật Bản (Đảng LDP), Singapore (Đảng PAP) và Trung Quốc (Thuyết Ba đại diện của Giang Trạch Dân, cơ chế ĐCS chuyển ý chí đảng thành luật qua quá trình lập pháp). |
Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết
Qua tổng quan tình hình nghiên cứu, tác giả nhận thấy các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở việc xem xét phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước một cách chung nhất, hoặc nghiên cứu riêng rẽ về tổ chức và hoạt động của Quốc hội. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về vấn đề thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng NNPQ XHCN. Luận án giải quyết 3 khoảng trống trọng tâm:
- Làm rõ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước nói chung và Quốc hội nói riêng dưới góc độ lý luận NNPQ XHCN.
- Hoàn thiện cơ sở lý luận về khái niệm, nội dung, nguyên tắc và vai trò của thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
- Xây dựng hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ nhằm thể chế hoá và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội ở Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Cơ sở lý luận nền tảng: Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và hệ thống quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam về Nhà nước, pháp luật và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
- Khái niệm thể chế: Dựa trên tổng thuật quan niệm của Ngân hàng Thế giới (2002), Từ điển tiếng Việt thông dụng (2008), và các học giả trong nước (GS.TS. Phạm Hồng Thái, GS. Đoàn Trọng Truyến, PGS.TS. Nguyễn Đăng Dung), luận án xác định thể chế là hệ thống các quy định, luật lệ, quy chế và tổ chức thực thi nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội.
- Khái niệm thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội: Được tác giả hiểu theo nghĩa hẹp là quá trình biến những điều chưa có quy định thành có quy định; cụ thể là việc pháp lý hóa sự lãnh đạo của Đảng hoặc chính thức hóa bằng các văn bản quy định dưới dạng văn bản QPPL hoặc nội quy, quy chế hoạt động của Đảng và Quốc hội.
- Khung phân tích nội dung thể chế hoá: Bao gồm 3 cấu phần:
- Luật hoá sự lãnh đạo của Đảng (đưa quan điểm, đường lối, phương thức lãnh đạo vào Hiến pháp, luật và các văn bản QPPL).
- Quy định nội dung, phương thức lãnh đạo trong Điều lệ Đảng và quy chế hoạt động của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư.
- Quy định cụ thể nội dung, phương thức lãnh đạo trong các quy chế làm việc của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội và Văn phòng Quốc hội.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Triết học Mác – Lênin, kết hợp cùng các phương pháp nghiên cứu cụ thể của khoa học pháp lý:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để phân tích các văn kiện Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, các quy chế và tổng hợp thành các khái niệm, đặc trưng lý luận.
- Phương pháp diễn giải và quy nạp: Áp dụng trong việc đánh giá thực tiễn hoạt động lập pháp, chỉ đạo của Đảng để rút ra các bài học kinh nghiệm và quy luật vận hành.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Thu thập, đánh giá thực trạng các văn bản quy định của Trung ương Đảng và các quy chế hoạt động của Quốc hội từ năm 1986 đến năm 2013.
- Phương pháp so sánh, đối chiếu: So sánh các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992); đối chiếu mô hình tổ chức và phương thức cầm quyền của các đảng chính trị tại một số quốc gia (Trung Quốc, Nhật Bản, Đức, Singapore) nhằm làm rõ tính đặc thù của Việt Nam.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
Nguồn tư liệu nghiên cứu bao gồm:
- Các văn kiện Đại hội Đảng, Nghị quyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VII, VIII, IX, X).
- Các bản Hiến pháp Việt Nam (1946, 1959, 1980, 1992) và các đạo luật tổ chức bộ máy, văn bản luật, pháp lệnh chuyên ngành.
- Các quy định, quy chế làm việc nội bộ của Trung ương Đảng, Đảng đoàn Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
- Các công trình chuyên khảo, đề tài khoa học cấp nhà nước và bài báo khoa học đã công bố trong và ngoài nước.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Chương 1 hệ thống hoá toàn diện các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài. Tác giả phân tích các nghị quyết của Đảng từ Đại hội VI đến Đại hội X, chỉ rõ sự chuyển biến trong nhận thức lý luận: từ việc coi Quốc hội thuần túy như một đoàn thể sang khẳng định vị trí cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất; từ phương thức lãnh đạo mang tính chỉ huy, can thiệp sâu sang lãnh đạo thông qua cương lĩnh, đường lối, công tác cán bộ và kiểm tra, giám sát.
Chương này cũng tổng hợp các nghiên cứu quốc tế về cơ chế cầm quyền của chính đảng tại Mỹ, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản và Singapore; rút ra bài học rằng mọi đảng cầm quyền đều phải tìm cách chuyển hoá cương lĩnh chính trị của mình vào hoạt động của nghị viện thông qua các quy tắc thể chế chính thức và đội ngũ nghị sĩ là đảng viên. Từ việc phân tích các công trình đi trước, chương 1 xác định rõ các luận điểm mà đề tài cần tiếp tục làm sâu sắc.
Chương 2: Cơ sở lý luận của thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Chương 2 tập trung xây dựng hệ thống khái niệm và khung lý thuyết:
- Khái niệm và sự cần thiết: Khẳng định thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng là việc xây dựng các quy định cụ thể dưới dạng văn bản QPPL hoặc nội quy, quy chế hoạt động. Trong NNPQ XHCN, Đảng lãnh đạo Quốc hội nhưng không đứng trên Hiến pháp, không ra mệnh lệnh hành chính mà phải tôn trọng tính độc lập tương đối và phát huy tính chủ động của cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân.
- Vai trò của thể chế hoá: (1) Bảo đảm căn cứ pháp lý, phòng chống buông lỏng hoặc tuỳ tiện can thiệp; (2) Phòng chống sự dựa dẫm, ỷ lại của Quốc hội vào cấp ủy Đảng; (3) Tạo môi trường dân chủ, minh bạch; (4) Tạo sự minh định thẩm quyền để nhân dân và cử tri giám sát.
- Bốn nguyên tắc thể chế hoá:
- Bảo đảm cho các chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện trong xã hội.
- Phù hợp với nội dung và tinh thần của Hiến pháp.
- Tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, các đạo luật và đường lối của Đảng.
- Đảm bảo Đảng kiểm soát được tổ chức và hoạt động của Quốc hội.
- Nội dung và phương thức lãnh đạo đối với hoạt động lập pháp: Phân tích nghị quyết của Đảng như một nguồn chính trị - tư tưởng của pháp luật; làm rõ phương thức Đảng định hướng chiến lược lập pháp, phân công cán bộ chủ chốt có trình độ chuyên môn cao sang công tác tại Quốc hội (như Ủy ban Pháp luật, Văn phòng Quốc hội), và cơ chế Bộ Chính trị/Ban Bí thư cho ý kiến về định hướng lớn của các dự án luật quan trọng trước khi trình Quốc hội thảo luận, biểu quyết.
Chương 3: Thực trạng thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội
Chương 3 phân tích thực tiễn áp dụng và vận hành cơ chế lãnh đạo qua các thời kỳ:
- Thực trạng thể chế hoá: Khảo sát việc đưa nguyên tắc Đảng lãnh đạo vào Điều 4 Hiến pháp năm 1992; đánh giá quá trình thể chế hoá đường lối của Đảng vào các đạo luật, pháp lệnh; xem xét các văn bản quy chế làm việc giữa Bộ Chính trị, Ban Bí thư với Đảng đoàn Quốc hội.
- Thực trạng phương thức lãnh đạo qua hai giai đoạn:
- Giai đoạn trước năm 1986: Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, phương thức lãnh đạo nặng về chỉ đạo trực tiếp, số lượng luật ban hành còn rất ít (chỉ vài chục luật và pháp lệnh).
- Từ năm 1986 đến 2013: Quốc hội đổi mới mạnh mẽ, ban hành và sửa đổi hàng trăm đạo luật, pháp lệnh. Phương thức lãnh đạo từng bước chuyển sang thể chế hoá, tôn trọng quy trình dân chủ tại nghị trường.
- Những tồn tại và bài học kinh nghiệm: Luận án chỉ ra việc lãnh đạo công tác lập pháp chưa đồng bộ, chủ yếu tập trung ở khâu thông qua luật mà chưa chú trọng đúng mức khâu lập chương trình dài hạn (dẫn đến tỷ lệ hoàn thành chương trình lập pháp mỗi khóa chỉ đạt khoảng 60 – 70%). Tiến độ chuẩn bị nhiều dự án luật kéo dài từ 5 đến 10 năm, thậm chí 15 năm; chất lượng một số dự án chưa cao, khiến Quốc hội mất nhiều thời gian cho kỹ thuật soạn thảo. Hoạt động giám sát tối cao hiệu quả chưa đồng đều; công tác quy hoạch, giới thiệu nhân sự ứng cử đại biểu Quốc hội đôi lúc còn biểu hiện gò ép.
Chương 4: Các quan điểm, giải pháp thể chế hoá và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền ở nước ta hiện nay
Chương 4 đưa ra phương hướng và giải pháp cụ thể:
- Hệ quan điểm chỉ đạo: Dự báo các yếu tố tác động từ hội nhập kinh tế quốc tế và cải cách tư pháp; xác định quan điểm thể chế hoá phải bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát; nâng cao trách nhiệm giải trình của Đảng trước nhân dân.
- Nhóm giải pháp thể chế hoá:
- Hoàn thiện các quy định pháp luật nhằm minh định ranh giới giữa thẩm quyền quyết định chính trị của Đảng và thẩm quyền lập hiến, lập pháp của Quốc hội.
- Ban hành và hoàn thiện quy chế làm việc mẫu giữa cấp ủy Đảng với Đảng đoàn Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các cơ quan của Quốc hội.
- Nhóm giải pháp đổi mới phương thức lãnh đạo:
- Đổi mới quy trình cho ý kiến của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đối với các dự án luật theo hướng chỉ cho ý kiến về mặt quan điểm, mục tiêu chính trị lớn, không can thiệp sâu vào kỹ thuật lập pháp và điều khoản chi tiết.
- Nâng cao tính tranh luận tại nghị trường thay vì chỉ dừng lại ở phát biểu mang tính tham luận.
- Đột phá về công tác cán bộ: Luận án kiến nghị nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách lên mức tối thiểu 50% ngay từ khóa XIV (nhiệm kỳ 2016 – 2021) nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp, giảm phụ thuộc vào các cơ quan hành pháp kiêm nhiệm.
- Đổi mới công tác giới thiệu nhân sự: Ban lãnh đạo Đảng lắng nghe ý kiến đại biểu, nghiên cứu giới thiệu từ 1 đến nhiều phương án nhân sự cho một số chức danh do Quốc hội bầu để tăng quyền lựa chọn thực chất cho đại biểu.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã xây dựng và chuẩn hóa hệ thống khái niệm, phạm trù khoa học về thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội trong khuôn khổ NNPQ XHCN ở Việt Nam.
- Xác lập 4 vai trò và 4 nguyên tắc cốt lõi của việc thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất.
- Làm rõ bản chất mối quan hệ giữa thể chế hoá và đổi mới phương thức lãnh đạo: thể chế hoá là tiền đề, là phương thức pháp lý hóa để đổi mới phương thức lãnh đạo diễn ra đúng nguyên tắc, tránh rơi vào hai thái cực buông lỏng hoặc bao biện làm thay.
Đóng góp về mặt thực tiễn và giải pháp
- Đánh giá khách quan, toàn diện thực trạng thể chế hoá và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội từ năm 1986 đến năm 2013, chỉ ra các nguyên nhân dẫn đến sự chậm trễ trong chuẩn bị luật và hạn chế trong giám sát.
- Đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi cao:
- Xác lập quy trình phân định việc Đảng cho ý kiến định hướng chính trị với thẩm quyền tự quyết của Quốc hội về mặt lập pháp.
- Đề xuất giải pháp cơ cấu lại thành phần đại biểu Quốc hội, nâng tỷ lệ đại biểu chuyên trách đạt ít nhất 50% từ nhiệm kỳ 2016 – 2021.
- Hoàn thiện cơ chế hoạt động của Đảng đoàn Quốc hội, phát huy tính tiên phong của đảng viên là đại biểu Quốc hội trong việc lắng nghe ý kiến cử tri và tranh luận tại nghị trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Phạm vi nội dung: Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu sự lãnh đạo của Đảng đối với chức năng lập pháp của Quốc hội; các chức năng giám sát tối cao và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước mới chỉ được đề cập ở mức độ kết hợp, chưa được phân tích thành các chương độc lập chuyên sâu.
- Phạm vi dữ liệu: Do đề tài hoàn thành năm 2013, các đánh giá thực tiễn chủ yếu dựa trên việc thi hành Hiến pháp năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) và các luật tổ chức hiện hành tại thời điểm đó, chưa phản ánh toàn diện các quy định mới của Hiến pháp năm 2013 (được thông qua vào cuối năm 2013).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Mở rộng nghiên cứu cơ chế thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động giám sát tối cao của Quốc hội (bao gồm cơ chế lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn).
- Nghiên cứu cơ chế kiểm soát quyền lực giữa các nhánh quyền lực nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.
- Tiếp tục khảo sát, đánh giá hiệu quả hoạt động của các đại biểu Quốc hội chuyên trách sau khi áp dụng các giải pháp tăng tỷ lệ đại biểu chuyên nghiệp hóa.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng và lĩnh vực công tác:
- Đối với các cơ quan tham mưu của Đảng và Quốc hội: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Đảng đoàn Quốc hội, Ủy ban Pháp luật và Văn phòng Quốc hội trong việc xây dựng, sửa đổi quy chế làm việc, phân định ranh giới lãnh đạo và nâng cao hiệu quả quy trình lập pháp.
- Đối với công tác hoạch định chính sách cán bộ: Cung cấp luận cứ khoa học để Đảng và Nhà nước tiếp tục cơ cấu lại tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách, đổi mới quy trình hiệp thương, giới thiệu nhân sự bầu cử đại biểu Quốc hội.
- Đối với công tác nghiên cứu và giảng dạy: Là tài liệu chuyên khảo có giá trị cao phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu các môn học: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, Luật Hiến pháp, Xây dựng Đảng và Khoa học chính trị tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội, Trường Đại học Luật Hà Nội, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh và hệ thống các trường chính trị tỉnh, thành phố.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa thế nào về "thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội"?
Theo luận án, thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội (theo nghĩa hẹp) là quá trình biến những điều chưa có quy định thành có quy định; cụ thể là việc xây dựng các quy định cụ thể dưới dạng văn bản quy phạm pháp luật hoặc các nội quy, quy chế hoạt động của Đảng và Quốc hội về sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội.
2. Luận án xác định các nguyên tắc nào chi phối việc thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội?
Luận án chỉ ra 4 nguyên tắc cơ bản:
- Bảo đảm cho các chủ trương, đường lối của Đảng được thực hiện trong xã hội.
- Thể chế hoá sự lãnh đạo của Đảng phải phù hợp với nội dung và tinh thần của Hiến pháp.
- Tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của Hiến pháp, các đạo luật và các đường lối, quan điểm của Đảng.
- Đảm bảo Đảng kiểm soát được tổ chức và hoạt động của Quốc hội.
3. Phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động lập pháp của Quốc hội có đặc điểm gì nổi bật?
Đảng là nơi khởi xướng và định hướng chiến lược lập pháp thông qua các nghị quyết, chỉ thị; đưa đường lối vào các dự án luật. Đối với các dự án luật lớn (như Luật Đất đai, Luật Phòng chống tham nhũng), Bộ Chính trị/Ban Bí thư nghe Đảng đoàn Quốc hội báo cáo để định hướng về quan điểm chính trị cốt lõi, sau đó Quốc hội thực hiện nhiệm vụ thiết kế kỹ thuật lập pháp chi tiết mà không bị Đảng can thiệp sâu vào từng điều khoản.
4. Tại sao tác giả đề xuất nâng tỷ lệ đại biểu Quốc hội chuyên trách lên ít nhất 50%?
Tác giả đề xuất nhằm khắc phục tình trạng đại biểu kiêm nhiệm (chủ yếu từ các cơ quan hành pháp) phải ưu tiên công việc chính, khó dành toàn tâm cho hoạt động lập pháp và giám sát. Việc tăng tỷ lệ đại biểu chuyên trách lên tối thiểu 50% giúp tăng tính chuyên nghiệp, thúc đẩy tinh thần tranh luận thực chất tại nghị trường thay vì phát biểu tham luận hình thức, và hạn chế việc Chính phủ lấn át Quốc hội.
5. Mối quan hệ giữa thể chế hoá và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng được giải thích như thế nào?
Hai yếu tố này có mối quan hệ gắn kết hữu cơ: thể chế hoá chính là công cụ và hình thức pháp lý hoá phương thức lãnh đạo. Khi nội dung và cách thức lãnh đạo được quy chế hoá và luật hoá rõ ràng thì phương thức lãnh đạo mới vận hành minh bạch, khoa học, khắc phục được tình trạng bao biện làm thay hoặc buông lỏng trách nhiệm lãnh đạo.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Đỗ Việt Hà là công trình nghiên cứu toàn diện và hệ thống về cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp thể chế hoá sự lãnh đạo cùng đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Quốc hội tại Việt Nam. Luận án làm rõ tính tất yếu của việc luật hoá và quy chế hoá mối quan hệ Đảng – Quốc hội nhằm đáp ứng các đòi hỏi của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hệ thống quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất, đặc biệt là việc phân định thẩm quyền chính trị - lập pháp và chuyên nghiệp hoá đại biểu Quốc hội, mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho tiến trình cải cách bộ máy nhà nước.