Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ THẾ CHẤP QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT ĐỂ VAY VỐN TẠI NGÂN HÀNG CỦA HỘ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về thế chấp quyền sử dụng đất của Hộ gia đình để vay vốn tại ngân hàng ở Việt Nam 1. Khái niệm, đặc điểm quyền sử dụng đất * Khái niệm quyền sử dụng đất Đất hay đất đai hiểu theo nghĩa chung theo Từ điển tiếng Việt thì đó là: “chất đặc ở trên mặt địa cầu”[27, trang 23], nếu theo nghĩa rộng khái quát thì đất đai được hiểu là: “toàn bộ vốn đất đai nằm trong phạm vi lãnh thổ quốc gia bao gồm: đất liền, hải đảo và lãnh hải”[10, trang 65 ]. Đất đai có một số đặc điểm: Thứ nhất, theo nguồn gốc phát sinh thì: đất đai là tài sản đặc biệt do thiên nhiên tạo ra có trước khi con người xuất hiện trên trái đất.
Trong quá trình sử dụng, với sự tác động của con người đối với đất đai chỉ làm tăng hoặc giảm độ màu mỡ của đất đai mà không làm cho đất đai biến mất. Thứ hai, đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá đối với bất kỳ quốc gia nào, tuy nhiên nguồn tài nguyên này là hạn chế và có vai trò vô cùng quan trọng không chỉ liên quan đến lợi ích trực tiếp của mỗi cá nhân, cộng đồng xã hội mà còn ảnh hưởng lớn đến lợi ích của cả thể chế chính trị, Nhà nước. Với vai trò đặc biệt quan trọng của đất đai thì việc xác định chế độ, hình thức sở hữu về đất đai luôn là vấn đề trọng yếu đối với mỗi thể chế chính trị - xã hội, đối với giai cấp cầm quyền. Đối với đa số các quốc gia trên thế giới có nhiều hình thức sở hữu đối với đất đai như: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể hay sở hữu toàn dân… trên cơ sở phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội mang tính đặc thù của mỗi quốc gia đó.
Đối với Việt Nam chế độ xác lập quyền sở hữu đối với đất đai được 8 hình thành và phát triển theo tiến trình lịch sử của dân tộc, dưới thời phong kiến đất đai được xác định là sở hữu của vua, chúa, quan lại, kể từ thời điểm đất nước ta được độc lập, tự chủ xây dựng chế độ dân chủ cộng hòa, nay cộng hòa xã hội chủ nghĩa thì sự đa dạng hình thức sở hữu về đất đai cũng được pháp luật thừa nhận. Từ năm 1980, Nhà nước chỉ thừa nhận duy nhất một hình thức sở hữu về đất đai, đó là hình thức sở hữu toàn dân về đất đai được quy định trong Điều 19 Hiến pháp 1980, sau này là Hiến pháp 1992 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2001). Hiến pháp năm 2013 tiếp tục khẳng định nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Trên cơ sở đó các luật như: Luật Đất đai 1987, Luật Đất đai năm 1993 và Luật Đất đai năm 2003 và Luật đất đai năm 2013 đều cụ thể hóa nhằm bảo đảm thực hiện nguyên tắc: Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.
Tuy nhiên trên thực tế, Nhà nước với vai trò là người đại diện chủ sở hữu không trực tiếp chiếm hữu, sử dụng đất đai mà giao đất, cho thuê đất hoặc công nhận quyền sử dụng đất đang sử dụng cho tổ chức, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Nhà nước không mất đi quyền đại diện chủ sở hữu đất đai của mình. Nhà nước thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu đất đai bằng các hình thức chủ yếu: Thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến sử dụng đất, thông qua việc xây dựng, xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để phân định mục đích sử dụng đất cho từng loại đất cụ thể. Ngoài ra, Nhà nước còn thực hiện thu các lợi ích vật chất từ việc sử dụng đất của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân thông qua việc nộp thuế, phí, lệ phí, nộp tiền sử dụng đất v.
Từ đây xuất hiện khái niệm "quyền sử dụng đất". Vậy quyền sử dụng đất là gì? - Luật Đất đai ngày 14/7/1993 và BLDS 1996 đã khẳng định quyền sử dụng đất là một tài sản. Điều 118 BLDS năm 2005 ghi nhận “Quyền sử dụng đất hợp pháp của hộ gia đình là tài sản chung của hộ”. Bằng nguyên tắc áp dụng pháp luật chúng ta có thể rút ra những quy tắc khác như : ”Quyền sử dụng đất hợp pháp của cá nhân là tài sản của cá nhân”, “quyền sử dụng đất hợp pháp của hợp tác xã là tài sản của hợp tác xã”.
Song, đây là một tài sản có những đặc điểm riêng không như bất cứ loại tài sản nào được ghi nhận trong luật thực định Việt Nam. Tại Điều 166 đến Điều 169 của Luật đất đai 2013 cũng quy định rất rõ ràng về quyền của người sử dụng đất. 9 Như vậy, quyền sử dụng đất ở Việt Nam có thể coi là một quyền tài sản riêng biệt được pháp luật quy định, trên cơ sở quy định của pháp luật thì chủ sử dụng đất được thực hiện các quyền năng pháp lý đối với tài sản này. Có thể nhận thấy theo quy định của pháp luật Việt Nam thì quyền sử dụng đất không phải là quyền độc lập mà là một trong ba quyền năng của quyền sở hữu đất đai do Nhà nước làm đại diện nên nó phụ thuộc rất nhiều vào quyền sở hữu đất đai.
Mặt khác, chủ sử dụng đất cũng không được thực hiện các quyền năng giống như các loại tài sản thông thường khác mà phụ thuộc vào các điều kiện, trình tự, thủ tục do Nhà nước quy định thông qua các quy định của pháp luật. * Đặc điểm của quyền sử dụng đất Mặc dù quyền sử dụng đất nằm trong quyền năng sở hữu về đất đai nhưng các chủ thể sử dụng đất vẫn có đầy đủ các quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cho mượn, bảo lãnh, góp vốn…quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khái niệm quyền sử dụng đất không đồng nhất với khái niệm quyền sở hữu về đất đai, bởi vì quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu có trước, còn quyền sử dụng đất là quyền phát sinh có sau khi các chủ thể được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển nhượng hay được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất. Mặt khác, quyền sở hữu đất đai là loại quyền trọn vẹn, đầy đủ, còn quyền sử dụng đất lại là một quyền không trọn vẹn, không đầy đủ.
Điều này được thể hiện ở các đặc điểm dưới đây: Thứ nhất, như phần trên đã phân tích, quyền sử dụng đất là một loại quyền về tài sản, được xác định giá trị và được phép chuyển đổi trên thị trường. Thứ hai, do tính chất đặc thù của chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở nước ta nên quyền sử dụng đất được hình thành trên cơ sở quyền sở hữu toàn dân về đất đai. Điều này có nghĩa là người sử dụng đất có quyền sử dụng đất khi được Nhà nước giao đất, cho thuê đất sử dụng ổn định lâu dài. Mặc dù, quyền sử dụng đất được tham gia vào các giao dịch chuyển nhượng trên thị trường song giữa quyền sở hữu toàn dân về đất đai và quyền sử dụng đất vẫn có sự khác nhau và chúng ta không 10 thể đồng nhất giữa hai loại quyền này; bởi lẽ, giữa chúng có sự khác nhau cả về nội dung và ý nghĩa, cụ thể: - Quyền sở hữu đất đai là quyền ban đầu (có trước) còn quyền sử dụng đất đai là quyền phát sinh (có sau) xuất hiện khi được Nhà nước giao đất hoặc cho thuê đất, cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất hay công nhận quyền sử dụng đất.
- Quyền sở hữu đất đai là một loại quyền trọn vẹn, đầy đủ còn quyền sử dụng đất đai là một loại quyền không trọn vẹn, không đầy đủ. Có nghĩa là chủ sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như Nhà nước - đại diện chủ sở hữu đất đai và quyền sở hữu của các chủ thể đối với những các tài sản khác.chủ sử dụng đất không có đầy đủ các quyền năng như Nhà nước - đại diện chủ sở hữu đất đai và quyền sở hữu của các chủ thể đối với các tài sản khác. Với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai theo quy định của Hiến pháp 1992 và Luật Đất đai 2003; Hiến pháp năm 2013 và Luật đất đai 2013 thì Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có toàn quyền thực hiện quyền sở hữu bao gồm các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với đất đai. Quyền sở hữu đại diện của Nhà nước mang tính duy nhất và tuyệt đối.
Tính duy nhất thể hiện ở điểm pháp luật không cho phép tồn tại bất cứ hình thức sở hữu nào khác ngoài hình thức sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước là người đại diện. Điều này có nghĩa là đất đai luôn thuộc về một chủ thể nhất định duy nhất là Nhà nước và pháp luật không cho phép bất kỳ hành vi nào xâm phạm quyền định đoạt đất đai của Nhà nước. Tính tuyệt đối thể hiện, toàn bộ vốn đất đai trong phạm vi cả nước dù đã được giao hay chưa được giao cho bất kỳ tổ chức cá nhân nào sử dụng đều thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Thứ ba, không phải bất cứ người nào có quyền sử dụng đất hợp pháp cũng có đầy đủ các quyền chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, cho mượn, bảo lãnh, góp vốn, thừa kế…quyền sử dụng đất theo quy định.
Về cơ bản theo quy định của pháp luật chỉ những người sử dụng đất theo hình thức giao đất trả tiền sử dụng đất và thuê đất theo hình thức trả tiền một lần cho cả thời hạn thuê hoặc đã trả tiền trước thuê đất 11 cho nhiều năm mà thời hạn thuê đất đã được trả tiền còn lại ít nhất là 5 năm mới được pháp luật quy định được hưởng đầy đủ 9 quyền năng chuyển quyền sử dụng đất bao gồm: chuyển đổi, tặng cho, chuyển nhượng; cho thuê, cho thuê lại; thế chấp, bảo lãnh, thừa kế; góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Ngoài ra, trong quá trình sử dụng đất chủ sử dụng đất có thể bị chủ sở hữu đại diện là Nhà nước thu hồi trong các trường hợp đặc biệt phục vụ mục đích quốc phòng, lợi ích quốc gia… theo quy định của pháp luật.