Chương 1: Khái quát về tham nhũng và vấn đề tham nhũng trong lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam. Chương 2: Thực trạng tham nhũng thời Nguyễn giai đoạn 1802-1884. Chương 3: Các biện pháp phòng, chống tham nhũng thời Nguyễn giai đoạn 1802-1884. Do hạn chế về thời gian, tư liệu nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót.
Chúng tôi mong nhận được sự bổ sung, góp ý, phê bình để có thể tiếp tục hoàn thiện và mở rộng hướng nghiên cứu trong các đề tài tiếp theo. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ THAM NHŨNG VÀ VẤN ĐỀ THAM NHŨNG TRONG LỊCH SỬ CHẾ ĐỘ PHONG KIẾN VIỆT NAM 1. Khái niệm và nguyên nhân, điều kiện của tham nhũng 1. Khái niệm Ngày nay, khi tham nhũng đã trở thành nguy cơ và hiểm hoạ lớn ở nhiều quốc gia trên thế giới thì công tác phòng, chống tham nhũng lại càng được đẩy mạnh và tăng cường hơn nữa.
Nhưng để tiến hành công tác này một cách hiệu quả, trước hết cần phải nhận diện về tham nhũng, đưa ra những đặc trưng và dấu hiệu chủ yếu làm nền tảng để xác định một hành vi vi phạm pháp luật là hành vi tham nhũng hay không? Đây là tiền đề quan trọng trong xây dựng các quy định pháp luật về chống tham nhũng và đặt ra các biện pháp phòng ngừa tham nhũng trên các lĩnh vực. Đã có đến hàng trăm các định nghĩa, cách hiểu khác nhau của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước với mức độ rộng, hẹp khác nhau nhưng nhìn chung, nói đến tham nhũng, trước hết người ta thường nghĩ đến người có chức quyền hoặc người làm công tác quản lý liên quan đến tiền và tài sản công trong cơ quan nhà nước. Trong cách hiểu của người Việt xưa, tham quan ô lại, ăn hối lộ, đục khoét của công, vơ vét tiền của dân, cậy quyền sách nhiễu nhân dân … được dùng để chỉ những kẻ có chức, quyền và lợi dụng chức quyền đó, bằng những thủ đoạn, cách thức khác nhau để mưu lợi cho riêng mình. Những hành vi này xâm hại đến trật tự kinh tế của xã hội phong kiến, phá hoại kỉ cương phép nước, khiến dân chúng lầm than, cực khổ và sinh lòng oán thán triều đình.
Tham nhũng bao gồm hai thành tố: tham và nhũng. Theo từ điển Hán Việt, “tham” có nghĩa là hám lợi, vụ lợi; “nhũng” là quấy rối, khiến dân không được yên, tựu chung lại là các hành vi hạch sách người dân, ăn của đút để mưu lợi cho cá nhân. Song, nếu chỉ hiểu tham nhũng dưới hai góc độ đó thì chưa đủ bởi lẽ hành vi tham nhũng còn bao hàm nhiều dấu hiệu khác như ăn bớt của công, lạm dụng chức quyền vì tư lợi. Thời kì phong kiến không có một khái niệm đầy đủ về tham nhũng.
Tuy nhiên, thông 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com qua các tư liệu lịch sử, có thể nêu lên các hành vi, dấu hiệu đặc trưng của tham nhũng thời kì này. Quốc triều hình luật thời Lê đã xác định hành vi tham nhũng bao gồm: + Nhận hối lộ + Sử dụng tài sản, nhận lực của công vào việc riêng, ăn bớt của công + Sách nhiễu, chiếm đoạt của dân + Chậm nộp thuế, ăn bớt tiền thu thuế + Lạm chiếm đất đai + Tự tiện sai khiến dân đinh + Khai lậu hộ khẩu. Trong Hoàng Việt luật lệ cũng nêu lên nhiều hành vi tương tự, đặc biệt còn có một quyển riêng mô tả 9 hành vi nhận hối lộ bị coi là tội phạm như: quan lại nhận của, tiền; nhận của, tiền sau khi xong việc; quan lại hứa nhận của, tiền; làm quan lại sách nhiễu vay mượn tiền của của dân; cho người nhà sách nhiễu tiền của; nhân việc công bắt dân đóng góp. Đặng Huy Trứ trong cuốn "Từ thụ yếu quy"- Những quy tắc trọng yếu trong cho và nhận- đã tập trung vào hạt nhân của nạn tham nhũng là tệ ăn hối lộ để khái quát thành 104 trường hợp điển hình trong xã hội phong kiến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, giáo dục.
như: sĩ tử đi thi hối lộ cầu được đỗ; nhà buôn hối lộ để được lĩnh tiền công mua hành; kẻ thầu thuế cửa quan bến đò hối lộ để dễ lạm thu; quan tham lại nhũng hối lộ để lấy lòng quan trên; con cháu công thần, đại thần hối lộ để được tập ấm ra làm quan. [20] Hiện nay, khoa học pháp lý đã đưa ra khái niệm tham nhũng khá cụ thể. Luật phòng chống tham nhũng Việt Nam nêu lên khái niệm tham nhũng là “Hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi”. Các hành vi tham nhũng được điểm mặt, chỉ tên trong điều 3 của luật này.
Tham ô tài sản. Nhận hối lộ. Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Lạm quyền trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi. Giả mạo trong công tác vì vụ lợi.
Đưa hối lộ, môi giới hối lộ được thực hiện bởi người có chức vụ, quyền hạn để giải quyết công việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc địa phương vì vụ lợi. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn sử dụng trái phép tài sản của Nhà nước vì vụ lợi. Nhũng nhiễu vì vụ lợi. Không thực hiện nhiệm vụ, công vụ vì vụ lợi.
Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che cho người có hành vi vi phạm pháp luật vì vụ lợi; cản trở, can thiệp trái pháp luật vào việc kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án vì vụ lợi.[ 9; tr 11] Luật hình sự Việt Nam năm 1999, sửa đổi năm 2001 quy định các tội phạm về tham nhũng bao gồm các tội: tham ô tài sản; nhận hối lộ; tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản; tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ; tội lợi dụng chức vụ quyền hạn gây ảnh hưởng với người khác để trục lợi; tội giả mạo trong công tác. [10; tr 248-254] Khái niệm của Việt Nam cũng khá gần gũi với các khái niệm về tham nhũng của các tổ chức, các quốc gia trên thế giới. Ngân hàng thế giới định nghĩa: “Tham nhũng là việc lợi dụng quyền lực công cộng nhằm lợi ích cá nhân” [ 30; tr 27] Tổ chức Minh bạch thế giới cho rằng: Tham nhũng là hành vi của người lạm dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc cố ý làm trái pháp luật để phục vụ lợi ích cá nhân. [30; tr 27] Tài liệu hướng dẫn của Liên Hợp Quốc về chống tham nhũng cho rằng: "Tham nhũng là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng" bao hàm: + Hối lộ: là việc trao một lợi ích để tác động một cách không đúng đắn đến một hành vi hay một quyết định.
Hối lộ là hành vi tham nhũng phổ biến nhất mà chúng ta được biết. + Tham ô, trộm cắp và lừa đảo + Tống tiền 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com + Lạm dụng quyền quyết định + Chủ nghĩa thiên vị, nhất thân nhì quen + Tạo nên hoặc khai thác các lợi ích xung đột nhau + Đóng góp chính trị không đúng đắn [30; tr 18] Công ước liên châu Mỹ (OAS) về chống tham nhũng đưa ra những hành vi tham nhũng: + Đòi hoặc nhận trực tiếp hoặc gián tiếp bởi công chức chính phủ hoặc người thực hiện chức năng công, bất kì vật gì có trị giá bằng tiền hoặc lợi ích khác như quà tặng, sự ưu đãi, hoặc lợi thế khác cho bản thân hoặc cho người hay thực thể khác để công chức hoặc người thực hiện chức năng công đó làm hoặc không làm việc gì trong thực hiện chức năng công của mình + Đề nghị đưa, dành cho một cách trực tiếp hoặc gián tiếp cho công chức chính phủ hoặc người thực hiện chức năng công bất kì vật gì có giá trị bằng tiền hoặc lợi ích khác như quà tặng, sự ưu đãi, lời hứa hoặc lợi thế khác cho bản thân hoặc cho người hay thực thể khác để công chức hoặc người thực hiện chức năng công đó làm hoặc không làm việc gì trong thực hiện chức năng công của mình [31; tr 23] Chúng tôi dựa trên khái niệm “tham nhũng” và các hành vi cụ thể của tham nhũng được nêu trong Luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam năm 2005 làm cơ sở để nhận diện tham nhũng thời Nguyễn. Sở dĩ như vậy vì: thứ nhất, thời phong kiến không nêu ra một khái niệm tham nhũng tổng hợp, đầy đủ, gây khó khăn cho việc thống kê các hành vi tham nhũng qua các tư liệu lịch sử; thứ hai, đây là một khái niệm có sự đồng nhất giữa các thời đại và khá thống nhất trên thế giới; thứ ba, xét mục đích của lịch sử, tìm hiểu quá khứ để phục vụ hiện tại, vì sự phát triển của hiện tại, cho nên lấy khái niệm ngày nay nhìn nhận về hiện tượng của quá khứ để có sự so sánh, đối chiếu hợp lý, phát hiện những điểm tương đồng qua đó chắt lọc được các bài học kinh nghiệm quý báu. Do đó, công việc thống kê các vụ án tham nhũng thời Nguyễn qua các bộ sử lớn được xác định là: các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để vụ lợi, tập trung vào 12 hành vi tham nhũng điển hình của Luật phòng, chống tham nhũng Việt Nam năm 2005.
14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Liên quan đến khái niệm tham nhũng là các khái niệm: tham ô, nhận hối lộ, lãng phí, tệ quan liêu, cửa quyền, nhũng lạm, đặc quyền, đặc lợi. Tham ô, nhận hối lộ là những hành vi biểu hiện của tham nhũng song nội hàm có sự khác nhau. Sự phân biệt đã được nêu lên trong Luật hình sự Việt Nam năm 1999 ở điều 278: tội tham ô tài sản và điều 279: tội nhận hối lộ. Tham ô được hiểu là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý.
Còn tội nhận hối lộ là việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn trực tiếp hoặc qua trung gian đã nhận hoặc sẽ nhận tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác dưới bất kì hình thức nào để làm hoặc không làm một việc vì lợi ích hoặc theo yêu cầu của người đưa hối lộ. Tệ quan liêu và tệ tham nhũng có thể xem là anh em sinh đôi, nạn quan liêu là tiền đề cho tham nhũng, tham nhũng làm trầm trọng thêm chế độ quan liêu.