phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục; Luận văn gồm 3 chƣơng chính: Chƣơng 1: Phƣơng Đông và phƣơng Tây trong bối cảnh kinh tế - xã hội thế kỷ XVI-XVII Chƣơng I trình bày khái quát tình hình kinh tế-xã hội, bối cảnh chính trị và đời sống văn hóa của phƣơng Tây trong đó có Bồ Đào Nha và phƣơng Đông trong đó có Đông Á. Thông qua hoạt động của Chính thể Hoàng gia Bồ Đào Nha (Estado da India), ngƣời Bồ đã từng bƣớc tham gia vào các hoạt động thƣơng mại và truyền giáo ở khu vực Viễn Đông. Chƣơng 2: Quá trình thâm nhập Đông Á của ngƣời Bồ Đào Nha thế kỷ XVI- XVII Chƣơng II tập trung phân tích quá trình ngƣời Bồ Đào Nha thâm nhập vào các xã hội Đông Á, xây dựng các địa bàn thƣơng mại và truyền giáo trọng yếu (Malacca, Macao, Nagasaki…) cũng nhƣ ảnh hƣởng của nhân tố Bồ Đào Nha tới bức tranh hải thƣơng và truyền giáo ở khu vực. Chƣơng 3: Những mối liên hệ của ngƣời Bồ Đào Nha với Đại Việt thế kỷ XVI- XVII Chƣơng III trình bày và phân tích quá trình tiếp xúc, thiết lập quan hệ bang giao và thƣơng mại giữa Bồ Đào Nha và Đại Việt, từ hoạt động thƣơng mại đến hoạt động truyền giáo và khẳng định vai trò của Dòng Tên (SJ) trong hơn một thế kỷ phát triển của Thiên Chúa giáo ở Đại Việt, cùng với đó là sự biến đổi của tình hình văn hóa, tƣ tƣởng trong xã hội Đại Việt giai đoạn thế kỷ XVI-XVII.
Page | 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt CHƢƠNG I PHƢƠNG TÂY VÀ PHƢƠNG ĐÔNG TRONG BỐI CẢNH KINH TẾ - XÃ HỘI THẾ KỶ XVI–XVII Dƣới quan điểm địa-chính trị, địa-kinh tế, địa-văn hóa và địa-quân sự, phƣơng Tây đƣợc hiểu là toàn bộ khu vực châu Âu. Cho đến trƣớc thế kỷ XVI, nhận thức của thế giới phƣơng Tây, nhất là của khu vực Tây Âu, về thế giới phƣơng Đông còn hết sức mơ hồ. Trong các bản đồ cổ cũng nhƣ ghi chép của ngƣời phƣơng Tây, phƣơng Đông bao gồm toàn bộ những khu vực ngoài châu Âu. Tuy nhiên, từ sau các phát kiến địa lý cuối thế kỷ XV, nhận thức về phƣơng Đông ngày càng hoàn chỉnh, trong đó phƣơng Đông giờ đây đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp hơn nhƣng cụ thể hơn: toàn bộ khu vực châu Á.
Vài nét về Tây Âu đến thế kỷ XVI-XVII Lịch sử phƣơng Tây thời kỳ trung đại chứng kiến sự phát triển nhanh chóng của hàng loạt các quốc gia ở khu vực Tây Âu. Theo quan niệm truyền thống, thời kỳ trung đại Tây Âu trải dài trong khoảng 10 thế kỷ, từ khi đế chế Tây La Mã sụp đổ vào thế kỷ thứ V đến khoảng cuối thế kỷ XV – sau khi diễn ra hàng loạt các phát kiến địa lý quan trọng làm thay đổi cục diện quan hệ Âu - Á và Âu - Mỹ trong các thế kỷ tiếp theo. Tuy nhiên, lịch sử Tây Âu trung đại không phải đƣợc định hình từ chân không mà là sự phát triển kế tục của những giai đoạn văn minh cổ đại trƣớc đó. Sự phát triển thịnh đạt của các thời kỳ văn minh Crét và Mixen (thiên niên kỷ III-II TCN) trong không gian văn minh Hy Lạp và sau này là văn minh La Mã chính là tiền đề cho sự phát triển của Tây Âu giai đoạn trung đại.
Ngay từ thời kỳ Hy – La, các mối quan hệ và giao lƣu với các vùng đất phƣơng Đông khác qua các tuyến đƣờng bộ đã diễn ra hết sức cụ thể. Thông qua đó, các sản phẩm hàng hóa cũng nhƣ Page | 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt các giá trị văn hóa đã đƣợc giao lƣu rộng rãi với thế giới bên ngoài, tạo ra những đợt tiếp xúc văn minh với thế giới ngoài châu Âu. Văn minh Cret-Mixen hình thành ở khu vực Địa Trung Hải là nền văn minh đầu tiên của một xã hội tiền nhà nƣớc, xuất hiện sớm nhất ở phƣơng Tây. Tiếp theo thời kỳ Cret-Mixen là sự tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ, mà đế chế Roma nhƣ là đặc trƣng điển hình nhất của chế độ chiếm nô ở châu Âu.
Tuy nhiên, đó là cách nhìn phân lập của hình thái kinh tế-xã hội nhấn mạnh vai trò của con ngƣời trong quá trình sản xuất, ngoài ra còn có mối quan hệ con ngƣời-con ngƣời trong tôn giáo, văn hóa, tƣ tƣởng mà chúng ta quen gọi là phƣơng thức sản xuất. Phƣơng thức sản xuất chiếm hữu nô lệ ở châu Âu nói chung và ở Roma nói riêng dựa trên nền tảng là nền kinh tế Đại điền trang Latiphunđia. Đó là sự tập trung cao độ ruộng đất vào tay giai cấp chủ nô-cơ sở ra đời của các Đại điền trang, một sự đảm bảo về kinh tế để tồn tại một chế độ chiếm nô hùng mạnh. Một đặc trƣng điển hình của chế độ chiếm hữu nô lệ ở châu Âu.* Từ giữa thế kỷ I, chế độ Đại điền trang bắt đầu có những dấu hiệu khủng hoảng-hiện tƣợng quý tộc chủ nô xé nhỏ các Latiphunđia, làm các đại điền trang rộng lớn xƣa kia dần dần tan vỡ.
Sự tan rã của các Latiphunđia không những thể hiện sự khủng hoảng và suy vong của chế độ chiếm nô Roma, mà còn kéo theo hàng loạt sự thay đổi trong phƣơng thức canh tác, phƣơng thức bóc lột và tính chất của nền kinh tế. Cơ sở kinh tế cơ bản là các Latiphunđia bị sụp đổ, đẫn đến sự sụp đổ của thể chế chính trị rộng lớn, những giai cấp mới chƣa xuất hiện trong lòng xã hội và ngƣời nô lệ đƣợc giải phóng tƣơng đối. Vào thế kỷ V, ở ngoài địa vực của đế quốc Roma có các bộ lạc ngƣời Xentơ, Giecmanh, Slavơ cƣ trú. Những tộc ngƣời đó bị ngƣời Roma gọi là các “man tộc”.
* Latiphunđia là hình thái sản xuất cơ bản của nền kinh tế Roma. Vận mệnh của nhà nƣớc Roma gắn với vận mệnh những Đại điền trang. Khi các Đại điền trang phát triển cực thịnh thì cũng là lúc nhà nƣớc Roma, phát triển đến đỉnh cao, ngƣợc lại khi các Đại điền trang suy yếu và tan rã thì cũng là lúc đế quốc Roma đi vào giai đoạn khủng hoảng và suy vong. Page | 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt Các bộ lạc Giecmanh đã liên kết thành nhiều liên minh bộ lạc và dần xâm nhập vào lãnh thổ của đế quốc Roma.
Đó là cuộc thiên di lớn để hình thành những vƣơng quốc nhỏ nhƣ vƣơng quốc Frăng, Đông Gốt, Tây Gốt…mà đây là tiền đề để hình thành nên những nƣớc lớn ở châu Âu sau này là: Pháp, Đức, Italia. Những vƣơng quốc nhỏ đó thành lập cũng đồng nghĩa là sự sụp đổ của đế chế La Mã. Đó là sự thống nhất của các “man tộc” chịu ảnh hƣởng, lệ thuộc đế chế La Mã, đã biết đứng lên chống lại ngƣời thống trị mình. Tuy nhiên, cũng có một khoảng cách lớn giữa hai nền văn minh (một nền văn minh Hy-La rực rỡ và một nền văn minh nhỏ bé của các “man tộc”).
Sự sụp đổ của đế chế Tây La Mã vào năm 476 SCN là thời kỳ chấm dứt của chế độ chiếm hữu nô lệ. Bắt đầu một phƣơng thức sản xuất mới kéo dài khoảng hơn 10 thế kỷ - phƣơng thức sản xuất phong kiến. Để duy trì quyền lực, chế độ phong kiến phải tìm kiếm một bệ đỡ về tƣ tƣởng, văn hóa. Trong khi chƣa tự sản sinh ra hệ tƣ tƣởng mới cho mình, trên nền có sẵn họ đã tìm đƣợc bệ đỡ tƣ tƣởng, bệ đỡ tƣ tƣởng không phải là cái gì khác mà là Kitô giáo.
Ra đời vào khoảng thế kỷ I SCN ở phía đông đế quốc Roma (thuộc lãnh thổ Palestin). Lúc đầu, đạo Kitô là tôn giáo của quần chúng bị áp bức, công khai lên án sự giàu có, lên án sự bóc lột, nên bị giai cấp thống trị Roma thẳng tay đàn áp. Dần dần, đạo Kitô biến chất, trở thành một tôn giáo có lợi cho giai cấp chủ nô, đến thế kỷ IV (313) đƣợc công nhận là quốc giáo của đế quốc Roma. Các thủ lĩnh “man tộc” do nắm đƣợc chính quyền và trở thành giai cấp trung tâm của xã hội (dù có uy quyền nhƣng nền tảng văn hóa rất thấp kém, họ đã hình thành liên minh với các giai cấp khác để bổ sung về văn hóa và kiến thức).
Vì họ chƣa tự sản sinh ra hệ tƣ tƣởng của mình, họ tìm đến bệ đỡ tƣ tƣởng là Kitô giáo, đó là bức hào quang để bảo vệ thể chế đó (Lịch sử đã chứng minh một quy luật: Không có một triều đại nào có thể tồn tại đƣợc nếu không dựa vào các hệ tƣ tƣởng, tôn giáo). Page | 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Quá trình thâm nhập Đông Á của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI-XVII và những mối liên hệ với Đại Việt Về cấu trúc và bản chất của các thủ lĩnh quân sự vừa là thủ lĩnh, vừa là chủ đất. Các thế lực nhà thờ ra sức bảo vệ cho chế độ phong kiến đang lên. Qua đó, các thủ lĩnh quân sự phải chia cấp cho nhà thờ những không gian ruộng đất lớn và Kitô giáo đƣợc tôn vinh vào giai đoạn cuối của chế độ chiếm hữu nô lệ.
Trở thành bệ đỡ tƣ tƣởng chính thống và cao nhất của chế độ phong kiến. Khi chế độ phong kiến đƣợc xác lập ở châu Âu, tính trên mức độ ảnh hƣởng của một sự kiện đối với toàn nhân loại hoặc một châu lục, thì sự sụp đổ của nền kinh tế Đại điền trang và chƣa xác lập đƣợc các công cụ mới thì sự xâm lƣợc của ngƣời Ả rập vào châu Âu năm 638 nhƣ một cú huých lịch sử, tạo ra tầm nhìn của ngƣời châu Âu ra thế giới bên ngoài, mở ra một cánh của mới với kẻ thù tới từ Ba Tƣ. Ngƣời châu Âu tiếp nhận sự giao hòa của châu Á trong khoảng 300 năm, và họ đã bắt đầu hiểu rõ ý thức về dân tộc, về truyền thống văn hóa, hình thành chủ nghĩa dân tộc, ý thức quốc gia. Cũng từ đó, từ vƣơng quốc Frăng đƣợc thành lập, các quốc gia trung tâm nhƣ Đức, Ý, Pháp…đã ra đời trong bối cảnh đó.
Đến thế kỷ VIII, Sác-lơ Mác-ten tiến hành cuộc cải cách quân sự và chính sách ban cấp ruộng đất. Những ngƣời đứng ra ban cấp ruộng đất là các lãnh chúa, ruộng đất bị chia thành nhiều mảnh gọi là các lãnh địa.