Tổng quan nghiên cứu

Khu vực kinh tế phi chính thức tại Việt Nam đóng vai trò then chốt trong việc tạo sinh kế cho người dân, chiếm khoảng 70,5% đến 80,5% tổng số lao động xã hội và đóng góp ít nhất 20% vào Tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nhằm mở rộng mạng lưới bảo trợ, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006 đã chính thức đưa chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH) tự nguyện vào thực thi từ ngày 01/01/2008, mở ra cơ hội hưởng lương hưu cho hàng chục triệu người lao động tự do. Nghị quyết số 15-NQ/TW năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã đặt ra mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia BHXH. Tuy nhiên, tính đến cuối năm 2012, toàn quốc mới chỉ có 134.000 người tham gia BHXH tự nguyện, trong đó hơn 70% là những người đã từng tham gia BHXH bắt buộc đóng tiếp để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí. Đến 8 tháng đầu năm 2013, tỷ lệ tham gia BHXH mới chỉ đạt khoảng 20% tổng lực lượng lao động cả nước.

Thực trạng trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải nghiên cứu các rào cản tiếp cận chính sách tại các địa bàn cơ sở. Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Công tác xã hội của tác giả Phạm Thị Thu Hiền, dưới sự hướng dẫn khoa học của Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Tuấn Anh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, tập trung giải quyết vấn đề này. Nghiên cứu xác định các mục tiêu cốt lõi: mô tả đặc điểm nhân khẩu học, phân tích nhu cầu, đánh giá thực trạng và nhận diện các rào cản đối với việc tham gia BHXH tự nguyện của lao động phi chính thức. Địa bàn nghiên cứu là phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, thành phố Hà Nội – khu vực đô thị hóa có diện tích 3,51 km2, dân số năm 2012 đạt 7.095 người với mật độ 2.021 người/km2. Đây là địa phương có làng nghề truyền thống với 400 hộ canh tác 12 ha đất trồng đào, quất cảnh, cùng hơn 800 lao động tự do đăng ký tạm trú mỗi năm. Thời gian thu thập dữ liệu thực địa diễn ra từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013. Luận văn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp cơ sở khoa học để các nhà quản lý hoàn thiện chính sách an sinh, hướng tới nâng tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện tại các vùng đô thị hóa từ dưới 1% lên mức kỳ vọng của ngành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hai nền tảng lý thuyết xã hội học kinh điển để luận giải hành vi tham gia chính sách an sinh của người lao động:

Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Abraham Maslow (1943, bổ sung 1970) được sử dụng để phân tích động cơ nội tại của người lao động. Thuyết Maslow phân chia nhu cầu thành các cấp độ từ thấp đến cao, trong đó nhu cầu sinh học (ăn, mặc, ở) là nền tảng, tiếp đến là nhu cầu an toàn (an ninh kinh tế, phòng ngừa rủi ro tuổi già qua lương hưu). Theo nguyên lý này, người lao động chỉ có thể phát sinh và thực hiện nhu cầu an toàn dài hạn khi các nhu cầu sinh học trước mắt đã được bảo đảm ổn định.

Lý thuyết cấu trúc chức năng tiếp cận hệ thống an sinh xã hội như một chỉnh thể hữu cơ, trong đó BHXH tự nguyện là một tiểu hệ thống giữ chức năng phân phối lại thu nhập và chia sẻ rủi ro cộng đồng. Khi một bộ phận cấu thành không vận hành đúng chức năng hoặc không thu hút được sự tham gia của lực lượng lao động chiếm hơn 70% thị trường, toàn bộ hệ thống an sinh sẽ đối mặt với sự mất cân bằng cấu trúc.

Khung khái niệm của luận văn vận dụng các văn bản pháp lý và chuẩn mực quốc tế:

  • Bảo hiểm xã hội và Bảo hiểm xã hội tự nguyện: Theo Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2006, đây là loại hình bảo hiểm do Nhà nước tổ chức mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập để hưởng chế độ hưu trí và tử tuất. Mức đóng được điều chỉnh tăng dần: 16% thu nhập giai đoạn 2008-2009, 18% giai đoạn 2010-2011, 20% giai đoạn 2012-2013 và 22% từ năm 2014 theo Quyết định số 1111/QĐ-BHXH ngày 25/10/2011.
  • Khu vực kinh tế phi chính thức: Tiếp cận theo định nghĩa của Hội nghị Quốc tế các nhà Thống kê Lao động lần thứ 15 (ICLS 15) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), bao gồm các cơ sở sản xuất kinh doanh quy mô nhỏ, không có tư cách pháp nhân, không ký kết hợp đồng lao động chính thức và nằm ngoài phạm vi điều chỉnh của pháp luật lao động bắt buộc.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận định tính chuyên sâu nhằm bóc tách các chiều cạnh tâm lý, định kiến và rào cản hành vi của nhóm đối tượng dễ bị tổn thương.

Cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng xã hội học. Cỡ mẫu phỏng vấn sâu bao gồm 27 trường hợp, trong đó có 25 lao động thuộc khu vực phi chính thức phân bổ đều vào 5 nhóm công việc điển hình (5 lao động làm thuê, 5 lao động tự tạo việc làm, 5 lao động làm việc gia đình không hưởng lương, 5 chủ cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể, 5 xã viên hợp tác xã nông nghiệp) cùng 2 cán bộ quản lý (1 cán bộ phụ trách Văn hóa - Xã hội phường Tứ Liên và 1 cán bộ BHXH quận Tây Hồ).

Bên cạnh đó, nghiên cứu triển khai 5 cuộc thảo luận nhóm tập trung với tổng cộng 57 người tham gia:

  • Nhóm 1: 12 lao động làm thuê tự do có nguồn gốc di cư.
  • Nhóm 2: 12 phụ nữ làm công việc nội trợ, phụ việc gia đình không hưởng lương tại cụm 1 và cụm 3.
  • Nhóm 3: 8 chủ hộ kinh doanh dịch vụ trên tuyến ngõ 124 đường Âu Cơ.
  • Nhóm 4: 10 cá nhân tự tạo việc làm như may vá, sửa chữa, buôn bán nhỏ.
  • Nhóm 5: 15 xã viên hợp tác xã và hộ canh tác cây cảnh nghệ thuật.

Lý do lựa chọn phương pháp: Nghiên cứu định tính cho phép lắng nghe trực tiếp tiếng nói từ hiện trường, ghi nhận những hoàn cảnh đời sống thực tế mà các bảng hỏi điều tra diện rộng khó bao quát hết. Toàn bộ thông tin được ghi âm, gỡ băng văn bản và mã hóa danh tính để bảo đảm tính khách quan và đạo đức nghiên cứu khoa học. Tiến trình nghiên cứu kết hợp quan sát tham dự tại chợ lao động và phân tích tài liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội địa phương trong giai đoạn từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Khảo sát thực tế tại phường Tứ Liên làm nổi bật 4 phát hiện căn bản:

Thứ nhất, cơ cấu việc làm của lao động phi chính thức có mức độ phân hóa cao và tính bấp bênh lớn. Số liệu khảo sát diện rộng của Viện Khoa học BHXH năm 2008 phản ánh nhóm tự tạo việc làm chiếm 54,1%, nhóm làm thuê chiếm 26,87%. Tại Tứ Liên, thu nhập của nhóm lao động làm thuê theo ngày dao động từ 200.000 đến 300.000 đồng/ngày nhưng không đều đặn, trung bình đạt khoảng 3.000.000 đồng/tháng. Nhóm phụ việc gia đình hoàn toàn không có thu nhập độc lập, phụ thuộc vào nguồn tài chính chung của hộ.

Thứ hai, biến động cư trú và việc làm gây đứt gãy quá trình tham gia an sinh. Nhiều lao động di cư làm thuê đã trải qua từ 4 đến 5 lần chuyển đổi chỗ ở và thay đổi công việc trong vòng 10 đến 14 năm mưu sinh. Tính chất di động khiến họ không nắm được thông tin đăng ký tại nơi tạm trú, dẫn đến tình trạng gần như 100% lao động làm thuê nhập cư ngoài địa bàn không tiếp cận được hệ thống BHXH tự nguyện.

Thứ ba, khoảng cách lớn giữa nhận thức và mức độ tham gia thực tế. Hầu hết người lao động đều có nhu cầu phòng ngừa rủi ro tuổi già, nhưng trên 70% số người tham gia BHXH tự nguyện trên toàn quốc tính đến cuối năm 2012 là những người từng đóng BHXH bắt buộc bảo lưu sang. Tại địa bàn Tứ Liên, người lao động tự do thuần túy tham gia rất thấp do chưa hiểu rõ nguyên lý đóng - hưởng và thiếu niềm tin vào giá trị đồng tiền trong dài hạn.

Thứ tư, sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các loại hình bảo hiểm thương mại. Trước khi chính sách BHXH tự nguyện phổ biến, nhiều người lao động tại địa phương đã chủ động ký kết các hợp đồng bảo hiểm nhân thọ với mức phí từ 4.000.000 đồng đến 12.000.000 đồng/năm trong thời hạn 10 năm nhờ mạng lưới đại lý tư vấn tận nhà, linh hoạt về thủ tục đóng nộp. Một số lao động kinh doanh cá thể lại tìm cách gửi đóng BHXH bắt buộc thông qua doanh nghiệp của người thân để được hưởng đầy đủ 5 chế độ thay vì chỉ 2 chế độ (hưu trí, tử tuất) như BHXH tự nguyện.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện thực tế tại phường Tứ Liên phản ánh rõ nguyên nhân cốt lõi khiến chính sách BHXH tự nguyện chưa thu hút được lao động tự do. Theo khung phân tích của Maslow, khi thu nhập bình quân chỉ ở mức 3.000.000 đồng/tháng và phải chi trả toàn bộ sinh hoạt phí, tiền thuê nhà tại đô thị, người lao động bị cuốn vào vòng xoáy đáp ứng nhu cầu sinh học trước mắt, không thể trích lũy từ 20% đến 22% mức lương tối thiểu để đóng bảo hiểm.

Kết quả này hoàn toàn tương đồng với các công trình nghiên cứu của Bales và Castel (2005) cũng như Castel (2008), chỉ ra rằng mức đóng góp tối thiểu còn cao và quy định thời gian đóng đủ 20 năm mới được hưởng lương hưu là rào cản quá lớn đối với khu vực phi chính thức.

Để lượng hóa và trực quan hóa các dữ liệu định tính, kết quả nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua:

  • Biểu đồ cơ cấu ngành nghề: Thể hiện tỷ trọng 54,1% lao động tự tạo việc làm và 26,87% lao động làm thuê, minh chứng cho tính chất phi kết cấu của thị trường lao động phi chính thức.
  • Bảng ma trận đối chiếu kinh tế - xã hội: Phân tích tương quan giữa 5 nhóm nghề nghiệp với mức trích nộp an sinh khả thi (từ 50.000 đến 150.000 đồng/tháng), cho thấy mức đóng hiện hành theo quy định vượt quá khả năng sẵn sàng chi trả của 80% hộ lao động làm thuê và tự tạo việc làm nhỏ lẻ.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các bằng chứng thực nghiệm, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp mang tính hành động nhằm nâng cao tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện:

Thứ nhất, ban hành chính sách hỗ trợ tài chính trực tiếp từ ngân sách Nhà nước. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng cơ chế ngân sách hỗ trợ từ 30% đến 50% mức đóng tối thiểu cho người lao động thuộc hộ nghèo, cận nghèo và lao động phi chính thức có thu nhập thấp. Mục tiêu giai đoạn 2014-2020 là giảm áp lực tài chính, tạo động lực ban đầu thu hút ít nhất 30% đối tượng yếu thế gia nhập hệ thống an sinh.

Thứ hai, sửa đổi Luật Bảo hiểm xã hội theo hướng giảm thời gian đóng và đa dạng hóa phương thức đóng. Quốc hội và cơ quan quản lý BHXH cần hạ thời gian đóng phí tối thiểu để hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm, tiến tới 10 năm. Đồng thời, thiết kế phương thức đóng phí linh hoạt theo chu kỳ 6 tháng hoặc 1 năm, phù hợp với đặc thù thời vụ của 400 hộ trồng quất cảnh và các hộ nông nghiệp đô thị.

Thứ ba, đổi mới công tác truyền thông cơ sở gắn với các tổ chức đoàn thể. Ủy ban nhân dân phường Tứ Liên, Hội Phụ nữ và Đoàn Thanh niên cần triển khai chiến dịch tuyên truyền nhóm nhỏ tại từng tổ dân phố. Mục tiêu cụ thể là tiếp cận 100% trong số hơn 800 lao động tự do đăng ký tạm trú, cung cấp bảng biểu so sánh quyền lợi rõ ràng giữa BHXH tự nguyện với bảo hiểm thương mại bằng ngôn ngữ dễ hiểu.

Thứ tư, mở rộng và chuyên nghiệp hóa mạng lưới đại lý thu bảo hiểm tại cộng đồng. BHXH quận Tây Hồ cần ủy quyền thu phí cho tổ trưởng tổ dân phố, trạm y tế phường và hệ thống bưu điện. Thiết lập bàn tư vấn lưu động tại chợ lao động và các tuyến ngõ tập trung đông hộ kinh doanh cá thể, hướng tới mục tiêu nâng tỷ lệ bao phủ BHXH tự nguyện trên địa bàn phường đạt mức tăng trưởng 15% mỗi năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  • Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách an sinh xã hội: Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cơ quan BHXH Việt Nam và Sở Lao động - Thương binh và Xã hội các tỉnh, thành phố có thể sử dụng dữ liệu thực chứng của luận văn để đánh giá tính khả thi của biểu phí đóng 22%, từ đó xây dựng các nghị định hướng dẫn Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi phù hợp với khu vực phi chính thức.
  • Chính quyền địa phương và cán bộ quản lý cơ sở: Ủy ban nhân dân cấp xã, phường và cán bộ văn hóa - xã hội tại các địa bàn đô thị hóa nhanh có thể ứng dụng mô hình phân nhóm đối tượng (lao động làm thuê, tự tạo việc làm, chủ hộ kinh doanh) để xây dựng kế hoạch vận động và quản lý nhân khẩu tạm trú hiệu quả.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên ngành khoa học xã hội: Các chuyên ngành Công tác xã hội, Xã hội học, Kinh tế lao động và Quản lý công có thể sử dụng tài liệu này làm case study mẫu mực về việc kết hợp khung lý thuyết Maslow, thuyết cấu trúc chức năng với phương pháp nghiên cứu định tính tại thực địa.
  • Các tổ chức phi chính phủ và hiệp hội bảo vệ quyền lợi người lao động: Các tổ chức phát triển xã hội có thêm nguồn tư liệu thực tế để thiết kế các dự án can thiệp cộng đồng, hỗ trợ kỹ thuật và vận động chính sách an sinh cho hơn 70% lực lượng lao động dễ bị tổn thương tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao lao động khu vực phi chính thức tại phường Tứ Liên ít tham gia BHXH tự nguyện?
Nguyên nhân chủ yếu do thu nhập của người lao động không ổn định, bình quân nhóm làm thuê chỉ đạt khoảng 3.000.000 đồng/tháng và phải ưu tiên chi trả sinh hoạt phí trước mắt. Bên cạnh đó, quy định thời gian đóng phí kéo dài 20 năm cùng mức phí 20% đến 22% mức thu nhập lựa chọn tạo ra gánh nặng tài chính lớn so với khả năng tích lũy thực tế của họ.

Mức đóng và phương thức đóng BHXH tự nguyện được quy định cụ thể như thế nào?
Theo Luật Bảo hiểm xã hội 2006 và Quyết định số 1111/QĐ-BHXH, mức đóng hàng tháng bằng tỷ lệ quy định (20% trong giai đoạn 2012-2013 và 22% từ năm 2014) nhân với mức thu nhập do người tham gia lựa chọn (thấp nhất bằng lương tối thiểu chung, cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu). Người tham gia có thể đóng linh hoạt theo phương thức hàng tháng, hàng quý hoặc 6 tháng một lần.

Nghiên cứu đã sử dụng cỡ mẫu và phương pháp thu thập dữ liệu cụ thể nào?
Nghiên cứu tiến hành phương pháp định tính với cỡ mẫu gồm 27 cuộc phỏng vấn sâu (25 lao động thuộc 5 nhóm nghề nghiệp phi chính thức và 2 cán bộ quản lý văn hóa - xã hội, bảo hiểm xã hội) kết hợp 5 cuộc thảo luận nhóm tập trung với 57 người tham gia tại địa bàn phường Tứ Liên trong thời gian từ tháng 1 đến tháng 10 năm 2013.

Lý thuyết thang bậc nhu cầu của Maslow giải thích hành vi tham gia bảo hiểm xã hội ra sao?
Thuyết Maslow chỉ ra rằng nhu cầu an toàn (phòng ngừa rủi ro tuổi già bằng bảo hiểm) là nhu cầu bậc cao, chỉ xuất hiện khi các nhu cầu sinh học cơ bản (ăn, mặc, ở) đã được thỏa mãn. Khi người lao động làm thuê với mức thu nhập 200.000 đến 300.000 đồng/ngày còn loay hoay với chi phí sống thường nhật, họ chưa thể sẵn sàng trích tiền tham gia quỹ hưu trí dài hạn.

Bảo hiểm nhân thọ thương mại có ưu thế cạnh tranh gì so với BHXH tự nguyện tại địa bàn khảo sát?
Các doanh nghiệp bảo hiểm thương mại sở hữu mạng lưới đại lý tư vấn trực tiếp tận hộ gia đình, thủ tục thanh toán linh hoạt và gói đóng đa dạng từ 4.000.000 đến 12.000.000 đồng/năm với thời hạn 10 năm. Tính chủ động trong tiếp cận khách hàng đã giúp bảo hiểm thương mại thu hút được nhiều lao động kinh doanh trước khi BHXH tự nguyện phổ biến.

Kết luận

  • Luận văn khẳng định thực trạng tỷ lệ tham gia BHXH tự nguyện của lao động phi chính thức tại phường Tứ Liên còn rất thấp, dù hơn 800 lao động tự do tạm trú và hàng trăm hộ canh tác 12 ha quất cảnh đều có nhu cầu an sinh tuổi già.
  • Đóng góp lý luận quan trọng của nghiên cứu là việc tích hợp thành công thuyết thang bậc nhu cầu Maslow và thuyết cấu trúc chức năng để giải mã căn nguyên hành vi né tránh hoặc chưa thể tiếp cận chính sách an sinh của nhóm yếu thế.
  • Cung cấp nguồn dữ liệu thực chứng định tính phong phú thông qua 27 phỏng vấn sâu và 5 cuộc thảo luận nhóm với 57 người tham gia, phản ánh chân thực các rào cản về kinh tế, pháp lý và thủ tục hành chính.
  • Đề xuất lộ trình sửa đổi chính sách cụ thể cho giai đoạn 2014-2020: Nhà nước cần hỗ trợ từ 30% đến 50% mức đóng cho người thu nhập thấp, đồng thời hạ thời gian đóng hưởng lương hưu từ 20 năm xuống 15 năm.
  • Kêu gọi các cấp chính quyền, cơ quan quản lý BHXH và các tổ chức xã hội khẩn trương đổi mới cơ chế truyền thông và mở rộng mạng lưới đại lý thu cơ sở, nhằm hiện thực hóa mục tiêu 50% lực lượng lao động tham gia lưới an sinh xã hội bền vững.