phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 03 chƣơng, cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu, bao gồm 04 nội dung: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu; các khái niệm về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm xã hội tự nguyện và phi chính thức; bảo hiểm xã hội tự nguyện dƣới góc nhìn lý thuyết nhu cầu và lý thuyết cấu trúc chức năng, khái quát chung về bảo hiểm xã hội tự nguyện. Chƣơng 2: Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu; đặc điểm nhân khẩu học; đánh giá về nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện của lao động trong khu vực phi chính thức trên địa bàn nghiên cứu; thực tế và khả năng tham gia BHXH tự nguyện của lao động trong khu vực phi chính thức. Chƣơng 3: Những rào cản mà lao động trong khu vực phi chính thức gặp phải khi tiếp cận và tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu Cho đến nay, nhiều nghiên cứu về BHXH đã đƣợc triển khai. Các nghiên cứu đã tìm hiểu nhiều chiều cạnh khác nhau của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng. Trƣớc hết công trình nghiên cứu cần đề cập tới phải kể đến là: "Cơ sở lý luận về việc thực hiện các loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam" của tác giả Nguyễn Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm 2001, trong đó tác giả mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện loại hình BHXH tự nguyện ở Việt Nam, tác giả đã đƣa ra vai trò, sự cần thiết của loại hình BHXH tự nguyện trong hệ thống BHXH Việt Nam. Tuy nhiên, tác giả vẫn chƣa nghiên cứu sâu về nội dụng, hình thức, tổ chức quản lý quá trình phát triển loại hình BHXH tự nguyện [25].
Hai công trình nghiên cứu tiếp theo là: "Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với nguời lao động tự tạo việc làm và thu nhập" của tác giả Bùi Văn Hồng, đề tài cấp Bộ năm 2002; [7]. "Giải pháp mở rộng đối tượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước" của tác giả Kiều Văn Minh, đề tài cấp Bộ năm 2003 tập trung nghiên cứu các giải pháp mở rộng đối tƣợng tham gia BHXH tự nguyện. Cụ thể trong hai công trình nghiên cứu này tác giả đã tập trung vào đối tƣợng là ngƣời lao động tự tạo việc làm và lao động trong khu vực tƣ nhân. Tuy nhiên, tác giả chƣa đề cập đầy đủ mối quan hệ lợi ích giữa ngƣời lao động khu vực phi chính thức và chế độ BHXH tự nguyện [14].
Đề tài "Cơ sở khoa h c quản lý và tổ chức thu bảo hiểm xã hội tự nguyện" của tác giả Nguyễn Anh Vũ, đề tài cấp Bộ năm 2003, với đề tài này 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả đã tập trung nghiên cứu cách thức thu và chi trả BHXH tự nguyện. Cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý , cách thức quản lý, sử dụng quỹ BHXH tự nguyện. Tác giả chƣa đề cập đến việc xây dựng mức đóng, hình thức đóng BHXH tự nguyện của ngƣời lao động trong khu vực phi chính thức [20]. Công trình "Nghiên cứu xây dựng lộ trình tiến tới thực hiện bảo hiểm xã hội cho m i người lao động" của tác giả Nguyễn Tiến Phú, đề tài cấp Bộ năm 2004, đã tập trung nghiên cứu lộ trình và các bƣớc tiến hành thực hiện BHXH tự nguyện, nghiên cứu này đã chỉ ra các bƣớc thực hiện BHXH tự nguyện về mặt cơ cấu tổ chức, cách thức quản lý, hình thức tham gia, nhƣng nghiên cứu này thực hiện trong bối cảnh chƣa có Luật BHXH [26].
Đề tài "Mô hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới và những bài h c kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam" của tác giả Đào Thị Hải Nguyệt, đề tài cấp Bộ năm 2007, đề tài tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của một số quốc gia nhƣ Mỹ, Trung Quốc, Đức … trong việc tổ chức triển khai thực hiện loại hình BHXH tự nguyện. Hình thức BHXH tự nguyện không phải quốc gia nào cũng tiến hành. Tuy nhiên ở hầu hết các quốc gia có hình thức BHXH này, đều thực hiện theo hai mô hình sau: Thứ nhất, bảo hiểm xã hội tự nguyện theo một hệ thống độc lập tồn tại song song với hệ thống BHXH bắt buộc. Mô hình này đƣợc thực hiện ở các nƣớc nhƣ CHLB Đức, Trung Quốc, Philippine, Mỹ, Australia… đƣợc áp dụng cho các đối tƣợng là nông dân, lao động nông thôn, lao động trong các hộ gia đình, các nông trại có quy mô nhỏ, những ngƣời tự tạo việc làm (nói chung các đối tƣợng này không thuộc đối tƣợng của hệ thống BHXH bắt buộc) và phần nhiều đƣợc tiến hành cho các chế độ BHXH dài hạn (hƣu trí tuổi già, tàn tật và tử tuất).
Điều đáng quan tâm là ở hầu hết các quốc gia tiến hành BHXH tự nguyện theo mô hình này phần lớn mang tính thí điểm hoặc mới áp dụng nên 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chƣa có những tổng kết về thành tựu cũng nhƣ những bài học kinh nghiệm rút ra qua quá trình thực hiện. Riêng đối với hệ thống BHXH của Mỹ, việc khống chế mức thu nhập trần để đóng BHXH bắt buộc và mức này đƣợc điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ (hiện nay mức thu nhập trần đóng BHXH là 84.900USD/năm), ngƣời lao động có mức thu nhập cao hơn mức trần này có thể tham gia vào hệ thống BHXH tự nguyện, hệ thống này độc lập với hệ thống BHXH bắt buộc và do tƣ nhân đảm nhiệm. Quỹ BHXH tự nguyện đƣợc thành lập trên cơ sở đóng góp của ngƣời lao động và ngƣời sử dụng lao động trên cơ sở tự nguyện. Sau khi đã đạt đƣợc sự thỏa thuận giữa hai bên về sự nhất trí tham gia BHXH tự nguyện và có cơ chế đóng góp cho loại hình bảo hiểm này (thỏa thuận này đƣợc ghi nhận trong thỏa ƣớc lao động tập thể của doanh nghiệp, ở đây vai trò đại diện của tập thể ngƣời lao động - tổ chức công đoàn là hết sức quan trọng).
Nhƣ vậy việc tham gia vào hệ thống BHXH tự nguyện không phải là mỗi cá nhân ngƣời lao động mà là cả tập thể của ngƣời lao động [11]. Thứ hai, BHXH bổ sung tự nguyện đƣợc thực hiện trên cơ sở nền tảng của BHXH bắt buộc. Đây là hình thức phổ biến hiện nay, đặc biệt ở các nƣớc có nền kinh tế phát triển nhƣ ở Đức. Điểm mấu chốt trong thực hiện hình thức BHXH này là những ngƣời tham gia BHXH bắt buộc có mức thu nhập bình quân (đƣợc tính toán) theo quy định có thể tham gia BHXH tự nguyện bổ sung tự nguyện để có mức trợ cấp cao hơn khi về hƣu [11].
Đề tài "Cơ sở khoa h c của việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2007-2015", đề tài cấp bộ của tác giả Mai Ngọc Cƣờng - Trƣờng Đại học Kinh tế quốc dân, đề tài này nghiên cứu tổng thể hệ thống ASXH ở nƣớc ta. Từ trƣớc năm 2008 có đề cập đến một số cơ sở để xây dựng chính sách về BHXH tự nguyện. Với công trình nghiên cứu này 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tác giả tập trung phân tích tổng thể hệ thống ASXH của Việt Nam, những cơ sở cần thiết để xây dựng chính sách về BHXH tự nguyện nhằm đảm bảo tính cân bằng và ổn định trong hệ thống ASXH [18]. Trong ”kinh tế phi chính thức tại các nước đang phát triển” của NXB tri thức, viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam do nhóm biên soạn Jean – Pierre Cling, Đỗ Hoài Nam, Stéphane Lagree, Mireille Razafin Drakoto, Francois Roubaud.
Trong khuôn khổ bài viết ”sự công nhận khu vực kinh tế phi chính thức trong chiến lƣợc việc làm của Việt Nam” của Andrea Salvini cho rằng một trong những điểm nổi bật của thị trƣờng lao động Việt Nam là tỷ lệ đi làm và tỷ lệ có việc làm cao và tỷ lệ thất nghiệp thấp (GSO, 2011a). Tuy nhiên, có việc làm ở Việt Nam thì chƣa đủ vì đa phần ngƣời lao động có việc làm chất lƣợng thấp trong các ngành hoạt động phi chính thức và năng suất thấp. Mặc dù “phi chính thức” là một khái niệm rộng, gần đây mới đƣợc các cơ quan nhà nƣớc định nghĩa và các tổ chức khác nhau có các định nghĩa khác nhau khiến việc đánh giá không thống nhất. Tuy nhiên, định nghĩa chặt chẽ đã đƣợc xây dựng.
Bài viết này cho thấy định nghĩa chính xác và rõ ràng cho phép thống kê lao động phi chính thức, giúp hiểu rõ hơn về hiện tƣợng này và qua đó ƣu tiên giải pháp chính sách. Trong khuôn khổ bài viết, khái niệm “khu vực kinh tế phi chính thức” đề cập đến tất cả các hoạt động kinh tế - trên văn bản hoặc trên thực tế - không đƣợc điều tiết một cách chính thức hoặc có điều tiết nhƣng không đầy đủ (CEACR, 2011). Việc làm phi chính thức liên quan đến nhiều ngƣời lao động và cơ sở kinh tế, trong nhiều lĩnh vực và khu vực thành thị, nông thôn. Điểm chung là thiếu các thỏa thuận chính thức, liên quan đến hợp đồng lao động và các hình thức đảm bảo việc làm khác và tỷ lệ việc làm chất lƣợng thấp do thiếu các văn bản này.
Nghiên cứu này mong muốn xác định mối liên hệ giữa mô hình tăng trƣởng và hiện 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tƣợng nhiều ngƣời lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức sống trong nghèo đói và làm việc năng suất thấp và vì vậy cần đƣợc quan tâm đầy đủ trong các chính sách của Nhà nƣớc. Theo Bộ Lao động, Thƣơng binh và Xã hội (MOLISA), số lao động phi chính thức chiếm 70,5% tổng số lao động năm 2009 (MOLISA, 2011). Theo định nghĩa khác thì lao động phi chính thức gồm cả việc làm thêm, số lao động phi chính thức chiếm 80,5% tổng số lao động năm 2009 (Cling và những ngƣời khác, 2010) và là thành phần quan trọng trong nền sản xuất quốc gia. Các tác giả trên nhận định rằng riêng khu vực phi chính thức tạo ra ít nhất 20 điểm phần trăm của GDP và sản lƣợng của Việt Nam bị đánh giá thấp hơn nhiều so với thực tế do chƣa tính đến việc làm phi chính thức [37; tr 493].