CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH GIÁ KHOẢN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG TỪ NĂM 2019 ĐẾN NAY 1. Quy định pháp luật về thẩm định giá khoản nợ xấu trong hoạt động xử lý nợ tại các Ngân hàng TMCP 1. Khái niệm thẩm định giá Thẩm định giá là một dịch vụ tư vấn tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu khách quan về việc xác định giá trị của tài sản; trên cơ sở đó các bên tham gia giao dịch có thể thỏa thuận với nhau về tài sản, giúp các giao dịch về tài sản thành công, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của các chủ thể tham gia giao dịch và các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác. Thẩm định giá góp phần làm minh bạch thị trường, thúc đẩy sự phát triển hiệu quả của thị trường.
Thẩm định giá viên về giá có vai trò xác định giá trị tài sản của nhiều đối tượng chính xác, độc lập, khách quan, và có đạo đức nghề nghiệp phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Việc thẩm định giá đúng giá trị tài sản giúp cho các hoạt động kinh tế trở nên hiệu quả và mang lại lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế. Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về thẩm định giá. Tại Việt Nam, theo khoản 15 Điều 4 Luật số 11/2012/QH13 (Luật Giá năm 2012), định nghĩa thẩm định giá như sau: “15.
Thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá.”1 Nếu theo khoản 16 Điều 4 Luật số 16/2023/QH15 (Luật Giá năm 2023) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, nội hàm của thẩm định giá được hiểu là “Thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam”.2 1 Luật số 11/2012/QH13 2 Luật số 16/2023/QH15 7 Như vậy, có thể hiểu, thẩm định giá là một loại dịch vụ mà trong đó thẩm định giá viên thực hiện việc thẩm định giá trị của các loại tài sản bằng tiền so với giá trị thị trường.2 Khái niệm nợ xấu Trong nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện của nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ngày càng trở nên phổ biến. Đặc biệt trong những năm gần đây, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, nợ xấu không ngừng tăng lên gây ra những tác động tiêu cực tới hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các TCTD nói riêng. Vì vậy, nợ xấu không phải vấn đề của riêng một TCTD hay của riêng bất kỳ quốc gia nào, ngày nay, nợ xấu là vấn đề chung của các nước có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Đương nhiên, cũng không có một quốc gia, một TCTD hay một khách hàng nào mong muốn nợ xấu vì những tác động tiêu cực mà nó mang lại.
Khi nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với một khối tài sản lớn nằm bất động tại TCTD, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của TCTD, khách hàng vay và của cả nền kinh tế. Đối với TCTD, bên cạnh nguồn vốn không thể thu hồi gốc và lãi như thỏa thuận, TCTD còn phải sử dụng tài sản có để trích lập dự phòng rủi ro với các tỷ lệ khác nhau tùy thuộc vào nhóm nợ mà khoản nợ xấu đó rơi vào, từ đó làm giảm nguồn vốn khả dụng của TCTD, đồng nghĩa giảm khả năng cung ứng vốn đối với nền kinh tế. Đối với khách hàng vay, để một khoản vay của TCTD quá hạn trở thành nợ xấu có nghĩa tên của họ sẽ được đưa vào “danh sách đen” hay ở Việt Nam là Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng CIC, đồng nghĩa với việc họ sẽ không thể tiếp cận thêm bất kỳ nguồn vốn vay nào khác của hệ thống TCTD, làm cho tình hình tài chính “xấu” càng thêm “xấu”. Đối với nền kinh tế, nợ xấu tồn đọng từ quan hệ cho vay của TCTD đối với khách hàng như “cục máu đông” làm “tắc nghẽn dòng chảy vốn” thông qua vai trò trung gian của hệ thống TCTD, tác động tiêu cực tới mọi mặt của đời sống xã hội.
Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu. Quan điểm về nợ xấu khác nhau ở các quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt. Nếu đứng dưới góc nhìn của các NHTM thì nợ xấu có thể hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động (NPLs: non - performing loans). Trên thực tế, không có chuẩn toàn cầu để định nghĩa nợ xấu.
Nhiều quan điểm đa dạng cùng song song tồn tại. Tiêu chuẩn 8 kế toán và ngân hàng quốc tế IAS 39, thường đề cập đến khái niệm này như những khoản cho vay bị tổn thất (loans being impaired) hơn là cụm từ “nợ xấu” (non- performing loans)3. Về khái niệm hoạt động quản lý nợ xấu, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2005) cho rằng: “Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM”3. Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii:) khả năng trả nợ bị nghi ngờ.
Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ. Theo quan điểm của NHNN, tại khoản 8 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN (Thông tư 11/2021/TT-NHNN) do Thống đốc NHNN ban hành Thông tư quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”4. Trong đó, phân loại nợ được quy định tại Điều 10 và Điều 11 Thông tư này.
Theo Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, phân loại nợ chủ yếu dựa theo thời gian quá hạn của các khoản nợ: Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) có thời gian quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) có thời gian quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) có thời gian quá hạn trên 360 ngày. Theo Điều 11 Thông tư 3 Basel Committee on Banking Supervision (2005), International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards (A Revised Framework). 4 Ngân hàng Nhà nước (2021), Thông tư 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 30/7/2021. 9 11/2021/TT-NHNN, phân loại nợ chủ yếu dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng được cấp tín dụng: Nhóm 3 là các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, nhóm 4 là các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, nhóm 5 là các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn có khả năng thu hồi, chấp nhận mất vốn.
Trong khi đó, tiêu chuẩn phân loại nhóm nợ và xác định nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2023) cũng chủ yếu dựa theo thời gian quá hạn của các khoản nợ và dựa theo khả năng trả nợ của khách hàng vay. Theo Điều 195 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định về nợ xấu như sau5: “Nợ xấu được áp dụng các quy định tại Chương này bao gồm: 1. Nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm khoản nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đ�i kế toán theo quy định của Th�ng đ�c Ngân hàng Nhà nước, khoản nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đ�i kế toán; 2. Nợ xấu mà tổ chức mua bán, xử lý nợ đã mua của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhưng chưa thu hồi được nợ.” Theo đó, nợ xấu của tổ chức tín dụng bao gồm: - Khoản nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.
- Khoản nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán. Có thể nói, dưới góc độ pháp lý, nợ xấu là tài sản cho vay khó thu hồi của TCTD thể hiện dưới dạng quyền tài sản: một loại quyền định giá được bằng tiền và có thể mua đi bán lại trên một thị trường đặc biệt - thị trường nợ xấu. Nợ xấu bắt nguồn từ một khoản tiền TCTD cấp cho khách hàng vay sử dụng trong khoảng thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của các bên và khi hết thời hạn này, TCTD có quyền thu hồi số tiền đã cấp nhưng gặp khó 5 Điều 195 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 10 khăn ở khâu thu hồi vốn và lãi. Giá trị của quyền tài sản này phụ thuộc vào số tiền TCTD đã cấp cho khách hàng và số lãi xác định theo lãi suất đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng.