Thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm định giá khoản nợ xấu trong hoạt động xử lý nợ tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long từ 2019 đến nay

Tìm hiểu thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm định giá nợ xấu tại Ngân hàng Kiên Long từ 2019 đến nay. Phân tích quy trình, thách thức và giải pháp xử lý nợ.

Chuyên ngành

Luật Kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề án tốt nghiệp

2024

88
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT ĐỀ ÁN

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

1. CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH GIÁ KHOẢN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG TỪ NĂM 2019 ĐẾN NAY

1.1. Quy định pháp luật về thẩm định giá khoản nợ xấu trong hoạt động xử lý nợ tại các Ngân hàng TMCP

1.2. Khái niệm thẩm định giá

1.3. Khái niệm nợ xấu

1.4. Điều kiện để thực hiện thẩm định giá nợ xấu

1.5. Mục đích thẩm định giá nợ xấu

1.6. Quy định về chủ thể mua bán nợ xấu

1.7. Bên mua nợ

1.8. Quy định về phương pháp xác định giá mua bán nợ xấu

1.9. Phương pháp xác định giá theo giá trị sổ sách của khoản nợ xấu

1.10. Phương pháp xác định giá theo giá thị trường của khoản nợ xấu

1.11. Thực trạng xử lý nợ xấu trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng TMCP

1.12. Quy định về xử lý tài sản bảo đảm

1.13. Thực trạng xây dựng quy trình thẩm định giá khoản nợ xấu

1.14. Giới thiệu khái quát về Ngân hàng TMCP Kiên Long

1.15. Thực trạng quy định về quy trình thẩm định giá khoản nợ xấu

1.16. Phương pháp thẩm định giá và tổ chức thẩm định giá khoản nợ xấu

1.17. Thực trạng áp dụng các phương pháp về thẩm định giá khoản nợ xấu

1.18. Một số hạn chế trong công tác thẩm định giá khoản nợ xấu

1.19. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC THẨM ĐỊNH GIÁ KHOẢN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG

2.1. Yêu cầu cơ bản của việc hoàn thiện công tác thẩm định giá khoản nợ xấu tại các TCTD trong giai đoạn hiện nay

2.2. Đảm bảo sự phù hợp với các quy định của pháp luật về thẩm định giá khoản nợ xấu

2.3. Kiến nghị Bộ Tài chính cần ban hành Tiêu chuẩn hướng dẫn TĐG khoản nợ xấu nhằm tháo gỡ vướng mắc trong xác định giá khoản nợ

2.4. Kiến nghị Tòa án nhân dân tối cao tiếp tục ban hành hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao tài sản bảo đảm, tranh chấp về quyền xử lý tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức mua bán, xử lý nợ xấu; một số quy định của pháp luật trong giải quyết các tranh chấp về xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm của khoản nợ xấu

2.5. Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định giá khoản nợ xấu tại Ngân hàng TMCP Kiên Long trong giai đoạn hiện nay

2.6. Một số giải pháp hoàn thiện công tác thẩm định giá khoản nợ xấu tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay

2.7. Kết luận Chương 2

PHẦN KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Hướng Dẫn Thẩm Định Giá Nợ Xấu tại Ngân Hàng Kiên Long

Thẩm định giá là một dịch vụ tư vấn tài chính quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Hoạt động này xuất phát từ nhu cầu khách quan về việc xác định giá trị của tài sản, giúp các bên tham gia giao dịch thỏa thuận, bảo đảm quyền lợi hợp pháp. Thẩm định giá viên có vai trò xác định giá trị tài sản một cách chính xác, độc lập, khách quan, phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Thẩm định giá đúng giá trị tài sản giúp các hoạt động kinh tế hiệu quả. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về thẩm định giá. Theo Luật Giá năm 2012, thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của tài sản. Theo Luật Giá năm 2023, thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định. Ngân hàng Kiên Long, cũng như các ngân hàng khác, cần thẩm định giá nợ xấu để có cơ sở xử lý hiệu quả.

1.1. Khái niệm và vai trò của Thẩm Định Giá TĐG

Thẩm định giá là quá trình xác định giá trị của tài sản, đóng vai trò quan trọng trong các giao dịch kinh tế. Việc thẩm định giá không chỉ giúp các bên tham gia giao dịch hiểu rõ giá trị thực của tài sản mà còn đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong các giao dịch. Trong bối cảnh nợ xấu gia tăng, thẩm định giá trở nên đặc biệt quan trọng đối với các ngân hàng thương mại như Ngân hàng Kiên Long. Việc xác định chính xác giá trị nợ xấu giúp ngân hàng đưa ra các quyết định xử lý nợ phù hợp, từ đó giảm thiểu rủi ro và tối ưu hóa lợi nhuận. Theo Luật Giá năm 2012 và 2023 thì có nhiều định nghĩa về thẩm định giá.

1.2. Thẩm Định Giá Nợ Xấu Định nghĩa và đặc điểm

Thẩm định giá nợ xấu là quá trình xác định giá trị của các khoản nợ mà khả năng thu hồi đầy đủ là không chắc chắn. Điều này đòi hỏi các chuyên gia thẩm định phải xem xét nhiều yếu tố, bao gồm tình hình tài chính của người vay, giá trị tài sản đảm bảo, và các điều kiện thị trường. Nợ xấu thường phát sinh do nhiều nguyên nhân, như khó khăn kinh tế, quản lý rủi ro tín dụng yếu kém, hoặc các yếu tố khách quan như thiên tai, dịch bệnh. Thẩm định giá nợ xấu không chỉ giúp ngân hàng xác định giá trị thực của khoản nợ mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng kế hoạch xử lý nợ hiệu quả.

II. Phân Tích Thực Trạng Nợ Xấu Thẩm Định tại Kiên Long

Tình hình nợ xấu là một vấn đề quan trọng đối với Ngân hàng Kiên Long, tương tự như nhiều ngân hàng thương mại khác. Nợ xấu gia tăng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận, khả năng thanh khoản và uy tín của ngân hàng. Do đó, việc quản lý và xử lý nợ xấu là ưu tiên hàng đầu. Hoạt động mua bán nợ xấu tại Việt Nam có sự góp mặt của VAMC, DATC và các AMC trực thuộc các TCTD. Mỗi chủ thể có vai trò, phạm vi và mục tiêu khác nhau. Các AMC thuộc các TCTD vẫn là chủ thể chính tham gia vào thị trường mua bán nợ xấu. Thực tế tại Ngân hàng TMCP Kiên Long, hoạt động xử lý nợ xấu theo phương thức bán đấu giá hoặc phương thức bán thỏa thuận cũng gặp khó khăn khi thiếu cơ sở pháp lý trong việc xác định giá bán khoản nợ xấu.

2.1. Thực trạng gia tăng nợ xấu tại Ngân hàng Kiên Long

Ngân hàng Kiên Long cũng đối mặt với tình trạng gia tăng nợ xấu, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động. Các nguyên nhân chính bao gồm: ảnh hưởng của dịch bệnh đến khả năng trả nợ của khách hàng, biến động thị trường bất động sản ảnh hưởng đến giá trị tài sản đảm bảo, và các vấn đề nội tại trong quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng. Việc đánh giá chính xác nguyên nhân và mức độ nợ xấu giúp ngân hàng có các biện pháp xử lý phù hợp. Việc tập trung xử lý, bán tài sản đảm bảo hoặc nhận cấn trừ nợ bằng tài sản bảo đảm, rồi từ đó, đưa ra phương án khai thác và bán tài sản được ưu tiên hơn là chào bán toàn bộ khoản nợ xấu.

2.2. Quy trình thẩm định giá nợ xấu hiện tại của Kienlongbank

Quy trình thẩm định giá nợ xấu tại Ngân hàng Kiên Long hiện tại bao gồm các bước chính: thu thập thông tin về khoản nợ, đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng, định giá tài sản đảm bảo, và lập báo cáo thẩm định giá. Tuy nhiên, quy trình này còn tồn tại một số hạn chế, như thiếu hướng dẫn cụ thể về phương pháp định giá nợ xấu, chưa tính đến yếu tố thị trường mua bán nợ, và phụ thuộc nhiều vào giá trị tài sản đảm bảo. Cần có các cải tiến để quy trình thẩm định giá trở nên chính xác và hiệu quả hơn. Việc xác định giá trị của các tài sản bảo đảm đang thế chấp, để từ đó, đưa ra giá bán toàn bộ khoản nợ theo nguyên trạng, mà chưa tính đến khả năng thu hồi hoặc lợi nhuận thu về được từ việc chuyển giao quyền truy đòi khoản nợ đó

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thẩm Định Giá Nợ Xấu

Để nâng cao hiệu quả thẩm định giá nợ xấu tại Ngân hàng Kiên Long, cần có các giải pháp toàn diện, bao gồm: hoàn thiện quy trình thẩm định giá, áp dụng các phương pháp định giá tiên tiến, tăng cường đào tạo chuyên môn cho đội ngũ thẩm định viên, và xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ thẩm định giá. Cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua bán nợ xấu thực sự đồng bộ và hoàn chỉnh, qua đó nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của các quy định này, trong đó có các quy định pháp luật về TĐG khoản nợ xấu. Một trong những thiếu sót trọng yếu hiện nay là đang thiếu quy định riêng hướng dẫn về việc thẩm định giá khoản nợ.

3.1. Hoàn thiện quy trình thẩm định giá nợ xấu

Quy trình thẩm định giá nợ xấu cần được hoàn thiện bằng cách bổ sung các bước đánh giá rủi ro tín dụng, phân tích thị trường mua bán nợ, và tính đến các yếu tố định tính như uy tín của khách hàng. Cần có hướng dẫn chi tiết về việc lựa chọn phương pháp định giá phù hợp với từng loại nợ xấu. Quy trình cần đảm bảo tính khách quan, minh bạch và tuân thủ các quy định pháp luật. Cần tính đến khả năng thu hồi hoặc lợi nhuận thu về được từ việc chuyển giao quyền truy đòi khoản nợ đó.

3.2. Áp dụng phương pháp định giá nợ xấu tiên tiến

Các phương pháp định giá nợ xấu tiên tiến bao gồm: phương pháp chiết khấu dòng tiền, phương pháp so sánh, và phương pháp định giá theo mô hình. Phương pháp chiết khấu dòng tiền cho phép tính đến giá trị thời gian của tiền và rủi ro không chắc chắn. Phương pháp so sánh dựa trên giá trị giao dịch của các khoản nợ tương tự. Phương pháp định giá theo mô hình sử dụng các công cụ toán học để dự đoán giá trị nợ xấu. Cần có sự linh hoạt trong việc lựa chọn phương pháp phù hợp với từng trường hợp cụ thể. Bộ Tài chính đã ban hành 14 tiêu chuẩn TĐG tài sản nói chung nhưng không có tiêu chuẩn nào dành cho đối tượng tài sản là khoản nợ xấu.

3.3. Tăng cường đào tạo chuyên môn cho thẩm định viên

Đội ngũ thẩm định viên cần được đào tạo chuyên sâu về các phương pháp định giá nợ xấu, phân tích rủi ro tín dụng, và pháp luật liên quan đến xử lý nợ. Cần có các chương trình đào tạo thường xuyên để cập nhật kiến thức và kỹ năng mới cho thẩm định viên. Cần khuyến khích thẩm định viên tham gia các khóa học chuyên ngành và lấy chứng chỉ thẩm định giá. Điều này đã làm cho kết quả định giá khoản nợ xấu không thực sự đúng và phù hợp với bản chất của quy luật cung cầu, quy luật giá trị, quy luật lợi ích gia tăng và cũng chính điều này là một phần nguyên nhân gây ra hạn chế, khó khăn khi tiến hành xử lý khoản nợ.

IV. Pháp Luật Quy Định về Thẩm Định Giá Nợ Xấu Hiện Nay

Hiện tại, khung pháp lý về thẩm định giá nợ xấu còn nhiều hạn chế, gây khó khăn cho các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp thẩm định giá. Các quy định hiện hành chủ yếu tập trung vào thẩm định giá tài sản nói chung, chưa có hướng dẫn cụ thể cho việc định giá nợ xấu. Điều này dẫn đến sự thiếu thống nhất và khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp luật. Cần có các quy định pháp luật chi tiết và cụ thể hơn về thẩm định giá nợ xấu để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động này.

4.1. Các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động TĐG nợ xấu

Các văn bản pháp luật hiện hành điều chỉnh hoạt động thẩm định giá nói chung bao gồm: Luật Giá, các nghị định và thông tư hướng dẫn thi hành Luật Giá, và các tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam. Tuy nhiên, các văn bản này chưa đề cập cụ thể đến việc thẩm định giá nợ xấu. Cần có các văn bản pháp luật riêng biệt hoặc sửa đổi các văn bản hiện hành để bổ sung các quy định về thẩm định giá nợ xấu. Các TCTD, VAMC và các doanh nghiệp TĐG vẫn phải áp dụng các tiêu chuẩn TĐG tài sản nói chung này.

4.2. Bất cập trong quy định pháp luật về TĐG nợ xấu

Các bất cập trong quy định pháp luật về thẩm định giá nợ xấu bao gồm: thiếu hướng dẫn về phương pháp định giá phù hợp, thiếu quy định về trách nhiệm của các bên liên quan, và thiếu cơ chế giải quyết tranh chấp. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước để giải quyết các bất cập này. Khi đưa khoản nợ xấu ra giao dịch, chào bán thì bên mua nợ cũng không có cơ sở pháp lý để xác định đâu là giá mua hợp lý, hầu như họ cũng đều tính toán dựa trên giá trị của các tài sản bảo đảm cho khoản nợ đó. Chính vì điều này, Kienlongbank và bên mua nợ không gặp được nhau về mặt giá cả, dẫn đến các khoản nợ chào bán không thành công.

V. Nghiên Cứu Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả TĐG Nợ Xấu

Việc ứng dụng thực tiễn các phương pháp và quy trình thẩm định giá nợ xấu tại Ngân hàng Kiên Long mang lại những kết quả nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần vượt qua để nâng cao hiệu quả hoạt động này. Nghiên cứu các trường hợp cụ thể và phân tích kết quả thẩm định giá giúp ngân hàng rút ra các bài học kinh nghiệm và điều chỉnh quy trình cho phù hợp.

5.1. Phân tích các trường hợp TĐG nợ xấu cụ thể tại Kiên Long

Phân tích các trường hợp thẩm định giá nợ xấu cụ thể tại Ngân hàng Kiên Long giúp hiểu rõ hơn về quy trình thực tế và các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thẩm định giá. Các trường hợp này có thể bao gồm các khoản nợ có tài sản đảm bảo khác nhau, các khoản nợ có tình hình tài chính của khách hàng khác nhau, và các khoản nợ được xử lý theo các phương thức khác nhau. Cần có sự so sánh và đối chiếu giữa các trường hợp để rút ra các kết luận có giá trị. Cần thiết phải xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ mua bán nợ xấu thực sự đồng bộ và hoàn chỉnh, qua đó nhằm nâng cao hiệu quả thực thi của các quy định này, trong đó có các quy định pháp luật về TĐG khoản nợ xấu.

5.2. Đánh giá hiệu quả của hoạt động thẩm định giá nợ xấu

Đánh giá hiệu quả của hoạt động thẩm định giá nợ xấu dựa trên các tiêu chí như: tính chính xác của kết quả thẩm định giá, khả năng thu hồi nợ sau khi xử lý, và chi phí thẩm định giá. Cần có sự so sánh giữa chi phí và lợi ích của hoạt động thẩm định giá để đánh giá tính hiệu quả. Đánh giá hiệu quả giúp ngân hàng có các quyết định đầu tư phù hợp vào hoạt động thẩm định giá. Nghiên cứu các trường hợp cụ thể và phân tích kết quả thẩm định giá giúp ngân hàng rút ra các bài học kinh nghiệm và điều chỉnh quy trình cho phù hợp.

VI. Kết Luận Tương Lai Của Thẩm Định Giá Nợ Xấu Tại VN

Thẩm định giá nợ xấu đóng vai trò ngày càng quan trọng trong bối cảnh thị trường tài chính Việt Nam phát triển. Để đáp ứng nhu cầu thực tế, cần có các giải pháp đồng bộ về pháp lý, chuyên môn và công nghệ. Sự phát triển của thẩm định giá nợ xấu góp phần vào sự ổn định và bền vững của hệ thống tài chính.

6.1. Xu hướng phát triển của TĐG nợ xấu tại Việt Nam

Xu hướng phát triển của thẩm định giá nợ xấu tại Việt Nam bao gồm: tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, phát triển các sản phẩm thẩm định giá chuyên biệt, và mở rộng hợp tác quốc tế. Cần có sự chủ động nắm bắt các xu hướng này để nâng cao năng lực cạnh tranh. Các phương pháp định giá nợ xấu tiên tiến bao gồm: phương pháp chiết khấu dòng tiền, phương pháp so sánh, và phương pháp định giá theo mô hình. Phương pháp chiết khấu dòng tiền cho phép tính đến giá trị thời gian của tiền và rủi ro không chắc chắn.

6.2. Đề xuất và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật TĐG

Các đề xuất và kiến nghị để hoàn thiện pháp luật về thẩm định giá nợ xấu bao gồm: ban hành các văn bản pháp luật chi tiết và cụ thể hơn, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước, và nâng cao vai trò của các tổ chức nghề nghiệp. Cần có sự lắng nghe và tiếp thu ý kiến của các chuyên gia và doanh nghiệp để xây dựng khung pháp lý hiệu quả. Tình hình nợ xấu là một vấn đề quan trọng đối với Ngân hàng Kiên Long, tương tự như nhiều ngân hàng thương mại khác.

29/04/2025
Thực tiễn áp dụng pháp luật về thẩm định giá khoản nợ xấu trong hoạt động xử lý nợ tại ngân hàng thương mại cổ phần kiên long từ 2019 đến nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: THỰC TRẠNG THẨM ĐỊNH GIÁ KHOẢN NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG TMCP KIÊN LONG TỪ NĂM 2019 ĐẾN NAY 1. Quy định pháp luật về thẩm định giá khoản nợ xấu trong hoạt động xử lý nợ tại các Ngân hàng TMCP 1. Khái niệm thẩm định giá Thẩm định giá là một dịch vụ tư vấn tài chính không thể thiếu trong nền kinh tế thị trường, xuất phát từ nhu cầu khách quan về việc xác định giá trị của tài sản; trên cơ sở đó các bên tham gia giao dịch có thể thỏa thuận với nhau về tài sản, giúp các giao dịch về tài sản thành công, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của các chủ thể tham gia giao dịch và các bên có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khác. Thẩm định giá góp phần làm minh bạch thị trường, thúc đẩy sự phát triển hiệu quả của thị trường.

Thẩm định giá viên về giá có vai trò xác định giá trị tài sản của nhiều đối tượng chính xác, độc lập, khách quan, và có đạo đức nghề nghiệp phục vụ nhiều mục đích khác nhau. Việc thẩm định giá đúng giá trị tài sản giúp cho các hoạt động kinh tế trở nên hiệu quả và mang lại lợi ích cho các chủ thể tham gia quan hệ kinh tế. Trên thế giới có rất nhiều định nghĩa về thẩm định giá. Tại Việt Nam, theo khoản 15 Điều 4 Luật số 11/2012/QH13 (Luật Giá năm 2012), định nghĩa thẩm định giá như sau: “15.

Thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá.”1 Nếu theo khoản 16 Điều 4 Luật số 16/2023/QH15 (Luật Giá năm 2023) có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2024, nội hàm của thẩm định giá được hiểu là “Thẩm định giá là hoạt động tư vấn xác định giá trị của tài sản thẩm định giá tại một địa điểm, thời điểm, phục vụ cho mục đích nhất định do doanh nghiệp thẩm định giá, hội đồng thẩm định giá thực hiện theo Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam”.2 1 Luật số 11/2012/QH13 2 Luật số 16/2023/QH15 7 Như vậy, có thể hiểu, thẩm định giá là một loại dịch vụ mà trong đó thẩm định giá viên thực hiện việc thẩm định giá trị của các loại tài sản bằng tiền so với giá trị thị trường.2 Khái niệm nợ xấu Trong nền kinh tế thị trường, sự xuất hiện của nợ xấu từ hoạt động cho vay của các TCTD ngày càng trở nên phổ biến. Đặc biệt trong những năm gần đây, khi nền kinh tế lâm vào tình trạng khủng hoảng, nợ xấu không ngừng tăng lên gây ra những tác động tiêu cực tới hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và các TCTD nói riêng. Vì vậy, nợ xấu không phải vấn đề của riêng một TCTD hay của riêng bất kỳ quốc gia nào, ngày nay, nợ xấu là vấn đề chung của các nước có nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường. Đương nhiên, cũng không có một quốc gia, một TCTD hay một khách hàng nào mong muốn nợ xấu vì những tác động tiêu cực mà nó mang lại.

Khi nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với một khối tài sản lớn nằm bất động tại TCTD, ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động của TCTD, khách hàng vay và của cả nền kinh tế. Đối với TCTD, bên cạnh nguồn vốn không thể thu hồi gốc và lãi như thỏa thuận, TCTD còn phải sử dụng tài sản có để trích lập dự phòng rủi ro với các tỷ lệ khác nhau tùy thuộc vào nhóm nợ mà khoản nợ xấu đó rơi vào, từ đó làm giảm nguồn vốn khả dụng của TCTD, đồng nghĩa giảm khả năng cung ứng vốn đối với nền kinh tế. Đối với khách hàng vay, để một khoản vay của TCTD quá hạn trở thành nợ xấu có nghĩa tên của họ sẽ được đưa vào “danh sách đen” hay ở Việt Nam là Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng CIC, đồng nghĩa với việc họ sẽ không thể tiếp cận thêm bất kỳ nguồn vốn vay nào khác của hệ thống TCTD, làm cho tình hình tài chính “xấu” càng thêm “xấu”. Đối với nền kinh tế, nợ xấu tồn đọng từ quan hệ cho vay của TCTD đối với khách hàng như “cục máu đông” làm “tắc nghẽn dòng chảy vốn” thông qua vai trò trung gian của hệ thống TCTD, tác động tiêu cực tới mọi mặt của đời sống xã hội.

Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu. Quan điểm về nợ xấu khác nhau ở các quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt. Nếu đứng dưới góc nhìn của các NHTM thì nợ xấu có thể hiểu là những khoản cho vay không có khả năng sinh lời hay những khoản cho vay không còn hoạt động (NPLs: non - performing loans). Trên thực tế, không có chuẩn toàn cầu để định nghĩa nợ xấu.

Nhiều quan điểm đa dạng cùng song song tồn tại. Tiêu chuẩn 8 kế toán và ngân hàng quốc tế IAS 39, thường đề cập đến khái niệm này như những khoản cho vay bị tổn thất (loans being impaired) hơn là cụm từ “nợ xấu” (non- performing loans)3. Về khái niệm hoạt động quản lý nợ xấu, Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (2005) cho rằng: “Quản lý nợ xấu là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững; trong đó tăng cường các biện pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế sự phát sinh nợ xấu, đi kèm với các biện pháp xử lý những khoản nợ xấu đã phát sinh, từ đó nhằm tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM”3. Về cơ bản, nợ xấu theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) được định nghĩa dựa trên hai yếu tố: (i): quá hạn trên 90 ngày, hoặc (ii:) khả năng trả nợ bị nghi ngờ.

Với quan điểm này, nợ xấu được tiếp cận dựa trên thời gian quá hạn trả nợ và khả năng trả nợ của khách hàng. Khả năng trả nợ ở đây có thể là khách hàng hoàn toàn không trả được nợ, hoặc việc trả nợ của khách hàng là không đầy đủ. Theo quan điểm của NHNN, tại khoản 8 Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN (Thông tư 11/2021/TT-NHNN) do Thống đốc NHNN ban hành Thông tư quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5”4. Trong đó, phân loại nợ được quy định tại Điều 10 và Điều 11 Thông tư này.

Theo Điều 10 Thông tư 11/2021/TT-NHNN, phân loại nợ chủ yếu dựa theo thời gian quá hạn của các khoản nợ: Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) có thời gian quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày, nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) có thời gian quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày, nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) có thời gian quá hạn trên 360 ngày. Theo Điều 11 Thông tư 3 Basel Committee on Banking Supervision (2005), International Convergence of Capital Measurement and Capital Standards (A Revised Framework). 4 Ngân hàng Nhà nước (2021), Thông tư 11/2021/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ban hành ngày 30/7/2021. 9 11/2021/TT-NHNN, phân loại nợ chủ yếu dựa vào khả năng trả nợ của khách hàng được cấp tín dụng: Nhóm 3 là các khoản nợ được TCTD đánh giá là có khả năng tổn thất một phần nợ gốc và lãi, nhóm 4 là các khoản nợ được TCTD đánh giá là khả năng tổn thất cao, nhóm 5 là các khoản nợ được TCTD đánh giá là không còn có khả năng thu hồi, chấp nhận mất vốn.

Trong khi đó, tiêu chuẩn phân loại nhóm nợ và xác định nợ xấu theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng (có hiệu lực đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2023) cũng chủ yếu dựa theo thời gian quá hạn của các khoản nợ và dựa theo khả năng trả nợ của khách hàng vay. Theo Điều 195 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 quy định về nợ xấu như sau5: “Nợ xấu được áp dụng các quy định tại Chương này bao gồm: 1. Nợ xấu của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bao gồm khoản nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đ�i kế toán theo quy định của Th�ng đ�c Ngân hàng Nhà nước, khoản nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đ�i kế toán; 2. Nợ xấu mà tổ chức mua bán, xử lý nợ đã mua của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài nhưng chưa thu hồi được nợ.” Theo đó, nợ xấu của tổ chức tín dụng bao gồm: - Khoản nợ xấu đang hạch toán trong bảng cân đối kế toán theo quy định của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước.

- Khoản nợ xấu đã sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý nhưng chưa thu hồi được nợ và đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán. Có thể nói, dưới góc độ pháp lý, nợ xấu là tài sản cho vay khó thu hồi của TCTD thể hiện dưới dạng quyền tài sản: một loại quyền định giá được bằng tiền và có thể mua đi bán lại trên một thị trường đặc biệt - thị trường nợ xấu. Nợ xấu bắt nguồn từ một khoản tiền TCTD cấp cho khách hàng vay sử dụng trong khoảng thời hạn nhất định theo sự thỏa thuận của các bên và khi hết thời hạn này, TCTD có quyền thu hồi số tiền đã cấp nhưng gặp khó 5 Điều 195 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 10 khăn ở khâu thu hồi vốn và lãi. Giá trị của quyền tài sản này phụ thuộc vào số tiền TCTD đã cấp cho khách hàng và số lãi xác định theo lãi suất đã được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng giữa TCTD và khách hàng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ