Luận văn thạc sĩ đổi mới giáo dục đạo đức cách mạng đảng bộ Quận 3 TPHCM

Nghiên cứu thạc sĩ chính trị học về đổi mới phương thức giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên tại Đảng bộ Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.

Chuyên ngành

Quản lý hoạt động tư tưởng – văn hóa

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
121
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ Quận 3

Giáo dục đạo đức cách mạng là hoạt động trọng tâm trong công tác xây dựng Đảng. Hoạt động này truyền thụ hệ thống giá trị chuẩn mực đạo đức cộng sản cho đội ngũ cán bộ, đảng viên. Nội dung cốt lõi bắt nguồn từ chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mục tiêu nhằm bồi dưỡng lập trường tư tưởng vững vàng. Đội ngũ cán bộ cần giữ vững phẩm chất liêm chính và tinh thần tận tụy phục vụ nhân dân. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, công tác này đòi hỏi nhiều đổi mới căn bản. Đảng bộ Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh là một đơn vị hành chính trung tâm có tốc độ đô thị hóa nhanh. Cơ cấu xã hội tại địa bàn biến chuyển mạnh mẽ. Những tác động đa chiều từ kinh tế mở cửa tạo ra cả cơ hội lẫn thách thức cho công tác tư tưởng. Việc đổi mới phương thức giáo dục đạo đức cách mạng giúp ngăn ngừa suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức và lối sống. Nhiệm vụ này củng cố niềm tin của nhân dân vào tổ chức cơ sở Đảng. Nghiên cứu chính trị học cung cấp cơ sở lý luận khoa học cho quá trình này. Đây là tiền đề nâng cao chất lượng nguồn nhân lực chính trị tại địa phương.

1.1. Khái niệm và bản chất của giáo dục đạo đức cách mạng

Giáo dục đạo đức cách mạng là quá trình tác động có mục đích và có kế hoạch. Hoạt động này hình thành thế giới quan tiến bộ và nhân sinh quan cách mạng. Hệ giá trị đạo đức bao gồm lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư luôn là thước đo cốt lõi. Bản chất của quá trình này là sự chuyển hóa tri thức lý luận thành niềm tin nội tâm sâu sắc. Niềm tin đó dẫn dắt hành vi thực tiễn hàng ngày của cán bộ. Công tác giáo dục đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa tổ chức Đảng và bản thân mỗi đảng viên. Đây là nền tảng bảo đảm sự trong sạch, vững mạnh của tổ chức Đảng.

1.2. Tính tất yếu đổi mới phương thức giáo dục trong kỷ nguyên số

Sự phát triển của công nghệ thông tin làm thay đổi phương thức tiếp nhận tri thức. Không gian mạng mở rộng đặt ra nhiều nguy cơ về thông tin xấu độc. Phương thức giáo dục một chiều truyền thống bộc lộ nhiều hạn chế về tính tương tác. Người học dễ rơi vào trạng thái thụ động và giảm sút hứng thú học tập. Do đó, đổi mới phương thức giáo dục đạo đức cách mạng là yêu cầu tất yếu khách quan. Quá trình đổi mới giúp nâng cao tính hấp dẫn và sức thuyết phục của bài giảng lý luận. Phương pháp hiện đại giúp bài học thấm sâu vào nhận thức của cán bộ, đảng viên. Đổi mới là con đường bảo vệ nền tảng tư tưởng Đảng vững chắc trước mọi thách thức thời đại.

II. Thực trạng giáo dục đạo đức cán bộ tại Đảng bộ Quận 3 TP

Quận 3 là địa bàn đô thị phát triển năng động tại trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh. Đảng bộ Quận 3 tập trung lãnh đạo công tác xây dựng Đảng toàn diện. Nhiều mô hình bồi dưỡng chính trị sáng tạo được triển khai kịp thời. Đội ngũ cán bộ, đảng viên cơ bản giữ vững bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức lối sống. Ý thức phụng sự nhân dân và tinh thần trách nhiệm trong công việc được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên, công tác giáo dục đạo đức cách mạng vẫn đối mặt với những hạn chế nhất định. Nội dung tuyên truyền đôi khi còn nặng tính lý thuyết hàn lâm. Một số chương trình học tập chưa gắn sát với tình huống thực tiễn tại cơ sở. Hình thức tổ chức sinh hoạt chính trị tại vài chi bộ còn rập khuôn và thiếu sinh động. Khả năng ứng dụng công nghệ thông tin trong truyền thông nội bộ chưa đồng đều giữa các đơn vị. Một bộ phận nhỏ cán bộ có biểu hiện giảm sút nhiệt huyết công tác. Tình trạng né tránh trách nhiệm hoặc ngại va chạm vẫn xuất hiện. Những tồn tại này đòi hỏi giải pháp khắc phục triệt để và đồng bộ từ cấp ủy địa phương.

2.1. Những kết quả tích cực đạt được trong công tác giáo dục

Đảng bộ Quận 3 đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề về giáo dục chính trị tư tưởng. Các hội nghị học tập chỉ thị, nghị quyết của Trung ương thu hút tỷ lệ đảng viên tham gia cao. Trung tâm Chính trị quận chủ động đổi mới giáo trình và đa dạng hóa hình thức truyền đạt. Phong trào học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh lan tỏa sâu rộng. Xuất hiện nhiều tấm gương cán bộ tận tụy phục vụ quyền lợi của nhân dân. Mối quan hệ gắn bó giữa Đảng bộ và nhân dân địa phương ngày càng thêm bền chặt. Những thành quả này tạo cơ sở chính trị vững chắc cho sự phát triển kinh tế địa phương.

2.2. Những tồn tại và hạn chế cần giải quyết tại Đảng bộ Quận 3

Bên cạnh thành tựu, công tác giáo dục đạo đức cách mạng tại Quận 3 còn bộc lộ một số bất cập. Phương pháp truyền đạt tại một số chi bộ cơ sở vẫn mang tính một chiều. Sự tương tác và đối thoại đa chiều giữa báo cáo viên và học viên chưa thực sự sâu sắc. Công tác kiểm tra, giám sát việc tu dưỡng đạo đức sau học tập chưa diễn ra thường xuyên. Việc ứng dụng chuyển đổi số trong quản lý sinh hoạt Đảng còn chậm so với yêu cầu. Tâm lý ngại đổi mới của một bộ phận cán bộ lớn tuổi gây khó khăn cho việc hiện đại hóa. Những yếu tố này làm giảm hiệu quả giáo dục tư tưởng thực tế.

III. Giải pháp đổi mới giáo dục đạo đức cách mạng tại Quận 3 hiện nay

Để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức cách mạng, Đảng bộ Quận 3 cần thực hiện đồng bộ hệ thống giải pháp. Trước hết, nội dung bài giảng lý luận cần được tinh gọn và thực tiễn hóa. Bài giảng phải gắn trực tiếp với nhiệm vụ chính trị và tình huống điều hành thực tế tại đô thị. Đa dạng hóa phương pháp truyền đạt thông qua thảo luận mở, diễn đàn chuyên đề và đóng vai xử lý tình huống. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong công tác đào tạo chính trị. Ứng dụng nền tảng trực tuyến, mạng xã hội nội bộ và bản tin điện tử để truyền tải thông điệp nhanh chóng. Nâng cao vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu cấp ủy và cơ quan, đơn vị. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu rèn luyện phẩm chất đạo đức. Kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục đạo đức với siết chặt kỷ luật Đảng và pháp luật Nhà nước. Tăng cường kiểm tra, giám sát định kỳ và đột xuất việc tu dưỡng của từng đảng viên. Phát huy vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân.

3.1. Ứng dụng công nghệ số và đổi mới phương thức truyền đạt lý luận

Đảng bộ Quận 3 cần xây dựng kho học liệu số về chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Các bài giảng điện tử cần tích hợp đồ họa trực quan và video minh họa sinh động. Trung tâm Chính trị quận phát triển ứng dụng di động phục vụ việc học tập trực tuyến linh hoạt. Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu lịch sử Đảng và tấm gương đạo đức trên không gian mạng. Phương thức này thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của cán bộ trẻ. Giảng viên chuyển đổi từ truyền đạt thụ động sang người điều phối thảo luận. Người học chủ động trao đổi, phản biện và tìm giải pháp cho các tình huống đạo đức công vụ.

3.2. Phát huy tính nêu gương và tăng cường kiểm tra giám sát đạo đức

Nêu gương là phương pháp giáo dục trực quan và có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất. Cán bộ lãnh đạo chủ chốt tại Quận 3 phải tiên phong trong lời nói và hành động. Từng đảng viên cần xây dựng kế hoạch rèn luyện đạo đức cá nhân cụ thể hàng năm. Cấp ủy cơ sở lấy kết quả tu dưỡng đạo đức làm tiêu chí bình xét thi đua định kỳ. Công tác kiểm tra, giám sát cần được tiến hành nghiêm túc và công minh. Kịp thời phát hiện và chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc tư tưởng ngay từ khi manh nha. Xử lý nghiêm minh các vi phạm nhằm răn đe và giữ nghiêm kỷ cương kỷ luật Đảng.

IV. Kết luận và định hướng ứng dụng thực tiễn cho cán bộ tại Quận 3

Đổi mới phương thức giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên tại Đảng bộ Quận 3 là nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu dài. Đây là khâu đột phá nhằm xây dựng tổ chức Đảng cơ sở trong sạch, vững mạnh toàn diện. Trong thời kỳ hội nhập sâu rộng, việc giữ gìn bản lĩnh chính trị và phẩm chất đạo đức là nhân tố quyết định năng lực lãnh đạo của Đảng. Các giải pháp đề xuất từ nghiên cứu chính trị học mang tính khả thi cao. Mô hình giáo dục tích hợp công nghệ số và thực hành nêu gương tạo chuyển biến rõ nét trong tư tưởng cán bộ. Đội ngũ cán bộ cơ sở nâng cao tinh thần phụng sự Tổ quốc và tận tụy phục vụ nhân dân. Đảng bộ Quận 3 tiếp tục hoàn thiện cơ chế đánh giá cán bộ minh bạch, gắn với sự hài lòng của công dân. Sự kết hợp giữa giáo dục lý luận và hành động thực tiễn giúp quận duy trì vị thế điểm sáng về quản trị đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài thạc sĩ chính trị học

Đề tài thạc sĩ chính trị học về đổi mới giáo dục đạo đức cách mạng tại Quận 3 bổ sung luận cứ khoa học cho công tác xây dựng Đảng. Nghiên cứu hệ thống hóa các nguyên lý lý luận Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức cách mạng. Đồng thời, đề tài đánh giá thực trạng khách quan và chỉ ra các nguyên nhân căn cốt. Những đề xuất có giá trị tham khảo thiết thực cho các cấp ủy cơ sở trên toàn địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Công trình góp phần hoàn thiện phương pháp giảng dạy lý luận chính trị trong môi trường đô thị hiện đại.

4.2. Định hướng triển khai lâu dài nhằm nâng cao phẩm chất cán bộ

Để tạo chuyển biến bền vững, Đảng bộ Quận 3 cần duy trì công tác bồi dưỡng chính trị thường xuyên và liên tục. Việc đổi mới phương thức giáo dục phải đi liền với công tác quy hoạch và luân chuyển cán bộ. Môi trường công tác thực tiễn là trường học tốt nhất để tôi luyện đạo đức cách mạng. Cơ quan chức năng cần kịp thời biểu dương các tập thể và cá nhân điển hình tiên tiến. Lan tỏa những câu chuyện đẹp về văn hóa công vụ giúp đẩy lùi tiêu cực xã hội. Cán bộ, đảng viên rèn luyện tinh thần tự soi, tự sửa để không ngừng hoàn thiện nhân cách.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Thạc sĩ chính trị học đổi mới phương thức giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ đảng viên ở đảng bộ quận 3 thành phố hồ chí minh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG THỨC GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN – MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 1. Giáo dục đạo đức cách mạng và phương thức giáo dục đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên 1. Đạo đức và đạo đức cách mạng 1. Khái niệm và cấu trúc của đạo đức * Khái niệm đạo đức Đạo đức là một hiện tượng xã hội, một hình thái ý thức xã hội đặc biệt, một trong những giá trị tinh thần mà xã hội loài người sáng tạo ra.

Đó là một hệ thống chuẩn mực các quan điểm, quan niệm, giá trị và nguyên tắc được hình thành trong đời sống xã hội nhằm điều chỉnh hành vi của con người, qua đó điều chỉnh mối quan hệ giữa người này với người khác, giữa cá nhân với xã hội. Đạo đức được thể hiện bởi niềm tin cá nhân, truyền thống, tập quán và sức mạnh của dư luận xã hội. Vì vậy trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nhân loại, vấn đề đạo đức luôn được xã hội quan tâm. Danh từ đạo đức bắt nguồn từ tiếng La tinh là lề thói, (moralis nghĩa là có liên quan đến lề thói, đạo nghĩa).

Còn “luân lí” thường xem như đồng nghĩa với “đạo đức” thì gốc ở chữ Hy Lạp là Êthicos nghĩa là lề thói; tập tục. Hai danh từ đó chứng tỏ rằng, khi ta nói đến đạo đức, tức là nói đến những lề thói, tập tục và biểu hiện mối quan hệ nhất định giữa người và người trong sự giao tiếp với nhau hàng ngày. Sau này người ta thường phân biệt hai khái niệm, moral là đạo đức, còn Ethicos là đạo đức học. Ở Phương Đông, người Trung Quốc có các học thuyết lý giải về đạo đức, giải thích rằng đạo là con đường đi, là đường sống của con người trong xã hội.

Đức mang nghĩa nhân đức, đức tính. Do vậy, đạo đức chính là những yêu cầu, những nguyên tắc do cuộc sống đặt ra mà con người phải tuân theo. 12 Khi bàn về đạo đức, quan điểm duy tâm và tôn giáo cho rằng đạo đức là những nguyên tắc, chuẩn mực được rút ra từ những lực lượng siêu nhiên, từ thượng đế, “ý niệm tuyệt đối” đem áp dụng vào đời sống hiện thực của con người. Khác với quan điểm duy tâm tôn giáo, quan điểm Mác-xít cho rằng: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là sản phẩm của điều kiện kinh tế-xã hội nhất định, trong đó nhân tố quy định đạo đức là các quan hệ kinh tế mà lợi ích là cái chi phối trực tiếp, là cơ sở khách quan của đạo đức.

Xét dưới góc độ nhận thức luận, đạo đức là một hiện tượng tinh thần, một hình thái đặc biệt của ý thức xã hội, là tính thứ hai so với tồn tại xã hội. Tính đặc biệt của nó được thể hiện trong quá trình hình thành các nguyên tắc, những chuẩn mực, những định hướng giá trị được xã hội hoặc của một giai cấp nhất định thừa nhận, có tác dụng điều chỉnh giữa người với tự nhiên, người với người, cá nhân với tập thể, với xã hội. Ăngghen viết: “Xét cho đến cùng mọi học thuyết về đạo đức có từ trước đến nay đều là sản phẩm của tình hình xã hội lúc bấy giờ” [14, tr. Đạo đức hình thành từ nhu cầu của đời sống xã hội, trước hết là do nhu cầu lao động sản xuất, trao đổi và phân phối sản phẩm, trong đấu tranh để tồn tại và phát triển.

Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội sớm xuất hiện trong lịch sử loài người. Tồn tại xã hội quy định đạo đức nên khi xã hội biến đổi thì đạo đức cũng sẽ biến đổi theo. Tuy nhiên, quan điểm Mác-xít còn cho rằng bản thân đạo đức nó cũng có tính độc lập tương đối của nó; nó còn có sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội, thúc đẩy hay kìm hãm sự phát triển của xã hội. Đạo đức mang bản chất xã hội và bản chất giai cấp.

Trong xã hội có giai cấp, đạo đức bao giờ cũng mang tính giai cấp, Ăngghen đã khẳng định: “Chúng ta thấy rằng ba giai cấp trong xã hội hiện đại, giai cấp quý tộc phong kiến, giai cấp tư sản và giai cấp vô sản, mỗi giai cấp đều có đạo đức riêng của mình” [14, tr. 13 Theo từ điển tiếng Việt, đạo đức là: “1. Những tiêu chuẩn, nguyên tắc được dư luận xã hội thừa nhận, quy định hành vi, quan hệ của con người đối với nhau và đối với xã hội 2. Phẩm chất tốt đẹp của con người do tu dưỡng theo những tiêu chuẩn đạo đức mà con người phải tuân theo” [56, tr.

Theo Theo từ điển Hán-Việt thì khái niệm đạo đức được hiểu như sau: “Đạo là lẽ phải, đức là điều tốt lành. Đạo đức là nguyên lý phải theo trong quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với xã hội tuỳ theo yêu cầu của chế độ kinh tế và chính trị nhất định” [61, tr. Như vậy, "Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội, là tập hợp những nguyên tắc, quy tắc, chuẩn mực xã hội, nhằm điều chỉnh và đánh giá cách ứng xử của con người trong quan hệ với nhau và quan hệ với xã hội, chúng được thực hiện bởi niềm tin cá nhân, bởi truyền thống và sức mạnh của dư luận xã hội" [30, tr. Là yếu tố cốt lõi của tính cách con người, đạo đức có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội, là một trong những phương thức cơ bản để điều chỉnh hành vi con người, làm cho cá nhân và xã hội cùng tồn tại và phát triển.

Chính vì thế mà các giai cấp, các tập đoàn xã hội tiến bộ, cách mạng bao giờ cũng xem đạo đức như là một trong những công cụ cơ bản, động lực nhằm thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Có thể nói, lịch sử tư tưởng nhân loại cũng là lịch sử phát triển của đạo đức. Đạo đức xã hội nguyên thủy dựa trên nguyên tắc về sự bình đẳng, hợp tác, nhưng ở trình độ rất thấp, đạo đức còn mang tính sơ khai, song nó có ý nghĩa là tiền đề cho sự hình thành và phát triển đạo đức sau này. Kế tiếp đạo đức xã hội nguyên thủy là các kiểu đạo đức của xã hội chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và sau nó là đạo đức mới - đạo đức cộng sản chủ nghĩa.

Đây là những nấc thang phát triển về chất trong lịch sử đạo đức nhân loại. 14 * Cấu trúc của đạo đức Đạo đức vận hành như là một hệ thống tương đối độc lập của xã hội. Cơ chế vận hành của nó được hình thành trên cơ sở liên hệ và tác động lẫn nhau của những yếu tố hợp thành đạo đức. Khi phân tích cấu trúc của đạo đức người ta xem xét nó dưới nhiều góc độ.

Mỗi góc độ cho phép chúng ta nhìn ra một lớp cấu trúc xác định. Chẳng hạn: xét đạo đức theo mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động thì hệ thống đạo đức hợp thành từ hai yếu tố ý thức đạo đức và thực tiễn đạo đức. Nếu xét nó trong mối quan hệ giữa người và người thì người ta nhìn ra quan hệ đạo đức. Nếu xét theo quan điểm về mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, cái phổ biến cái đặc thù với cái đơn nhất thì đạo đức được tạo nên từ đạo đức xã hội và đạo đức cá nhân.

Tại luận văn này, xem xét trên cơ sở nghiên cứu các nguyên lý công tác tư tưởng của Đảng, cấu trúc đạo đức bao gồm ba yếu tố cơ bản, đó là tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức và hành vi đạo đức. Tri thức đạo đức là những hiểu hiết về các giá trị, chuẩn mực đạo đức và về phương thức sáng tạo ra các giá trị đạo đức. Trong tri thức đạo đức có tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận. Tri thức kinh nghiệm đạo đức là tri thức về cái thiện, cái ác, về đức hạnh và thói xấu, về đạo đức và vô đạo đức… của những hành vi và ý nghĩ của con người trong cuộc sống bình thường hàng ngày.

Nó là loại tri thức cần thiết đối với con người, trong hoạt động mà ta thường gặp, thường thấy hàng ngày. Tri thức lý luận đạo đức là những tri thức, những hiểu biết về đạo đức dưới dạng các học thuyết và được diễn đạt bằng các khái niệm, phạm trù, quy luật đạo đức. Tình cảm đạo đức là thái độ rung cảm của cá nhân đối với hành vi của người khác và của chính mình trong quan hệ của cá nhân này với cá nhân khác và với xã hội. Có thể nói, tình cảm là những rung cảm của cá nhân trước một hiện thực đạo đức, đồng thời là thái độ xúc cảm của chủ thể trước hiện 15 thực ấy.

Chẳng hạn, trước cái thiện của sự thương yêu, đùm bọc, giúp đỡ người bất hạnh, sự xả thân vì người khác con người ta thường cảm động. Trước cái ác, cái xấu người trắc ẩn, xót thương, ghê sợ hoặc tức giận. Chính sự rung cảm về những hành vi có đạo đức đó thúc đẩy con người hành động một cách có đạo đức và điều chỉnh hành vi đạo đức của con người theo hướng tích cực. Nếu xét theo góc độ mối quan hệ giữa ý thức và hoạt động, thì ý thức đạo đức chính là tổng hợp của tri thức đạo đức và tình cảm đạo đức.

Hành vi đạo đức là một hành động tự giác được thúc đẩy bởi một động cơ có ý nghĩa về mặt đạo đức của một con người. Hành vi đạo đức là hoạt động của con người do ảnh hưởng của tri thức đạo đức, tình cảm đạo đức, là quá trình hiện thực hoá trong cuộc sống. Tri thức, tình cảm đạo đức, hay nói cách khác là ý thức đạo đức và hành vi đạo đức luôn có quan hệ biện chứng với nhau, bổ sung cho nhau tạo nên bản chất đạo đức con người, của một giai cấp, của một chế độ xã hội và của một thời đại lịch sử. Tri thức, tình cảm đạo đức phải được thể hiện bằng hành vi đạo đức thì mới đem lại những lợi ích xã hội và ngăn ngừa cái ác.

Nếu không có hành vi đạo đức thì tri thức, tình cảm đạo đức không đạt tới giá trị, sẽ rơi vào trừu tượng theo kiểu các giáo lý của tôn giáo. Trong cấu trúc của đạo đức, hành vi đạo đức là yếu tố có ý nghĩa quyết định. Đánh giá phẩm chất đạo đức của con người không chỉ căn cứ vào nhận thức hay tình cảm đạo đức mà quan trọng nhất là căn cứ vào hành vi đạo đức.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ