phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của đề tài Chƣơng 2: Đề xuất biện pháp tạo hứng thú học tập cho học sinh lớp 10 trong dạy học phần thơ Đƣờng Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Khái quát về thơ Đƣờng Thơ Đƣờng đƣợc xem là thành tựu rực rỡ nhất của văn học đời Đƣờng (618– 907), là mẫu mực của thơ ca Trung Quốc nói riêng và thơ ca trung đại phƣơng Đông nói chung, thậm chí là đỉnh cao của thơ ca nhân loại. Thơ Đƣờng đã đi vào Việt Nam từ rất lâu, gây đƣợc ảnh hƣởng sâu rộng và đƣợc nhiều ngƣời yêu thích. Ở nƣớc ta, từ đời Lý trở về sau, thơ Đƣờng đƣợc ông cha ta tìm hiểu và học hỏi, tiếp thu rất nhiều.
Không ít nhà thơ trung đại và hiện đại đã vận dụng đề tài, thi liệu, tứ thơ, điển cố trong thơ Đƣờng, học tập ngôn ngữ thơ Đƣờng. Thơ Đƣờng cũng đƣợc đƣa vào giảng dạy ở nhà trƣờng phổ thông và đại học. Những điều đó một mặt khẳng định giá trị to lớn của thơ Đƣờng, mặt khác thể hiện thái độ trân trọng, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại của ngƣời Việt Nam ta. Việc dạy – học thơ Đƣờng trong nhà trƣờng phổ thông nói chung và chƣơng trình Ngữ văn lớp 10 nói riêng không phải chỉ trong một giới hạn nhỏ hẹp là phân tích vài tác phẩm trong sách giáo khoa.
Cả ngƣời dạy và ngƣời học đều cần có những hiểu biết cơ bản về thơ Đƣờng, đặc biệt là những ngƣời dạy thơ Đƣờng – các GV cần có vốn kiến thức tƣơng đối toàn diện, sâu sắc thì mới tìm đƣợc các phƣơng pháp, hình thức tổ chức dạy học phù hợp, tạo đƣợc hứng thú học tập cho HS. Chúng tôi cho rằng, việc nghiên cứu, đề xuất biện pháp tạo hứng thú học tập cho HS lớp 10 trong dạy học phần thơ Đƣờng cần dựa trên cơ sở nắm rõ những kiến thức cơ bản nhƣ sau: 1. Những yếu tố cơ bản chi phối đặc điểm nội dung và nghệ thuật của thơ Đường Có rất nhiều yếu tố chi phối đặc điểm nội dung, nghệ thuật của thơ Đƣờng nhƣng ở đây chúng tôi chỉ xin đề cập đến hai yếu tố quan trọng là hoàn cảnh chính trị, xã hội và tƣ tƣởng, văn hóa. Hiểu rõ hai yếu tố này sẽ giúp ích nhiều cho việc tìm hiểu, khám phá các bài thơ Đƣờng trong chƣơng trình Ngữ văn 10.
Ví dụ nhƣ để hiểu tâm trạng của Đỗ Phủ trong bài Thu hứng, cần phải nắm đƣợc hoàn cảnh lịch sử - xã hội thời Thịnh Đƣờng, nhất là cuộc khởi loạn An Lộc Sơn có nhiều tác 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com động đến cuộc đời của nhà thơ. Hay để hiểu những gì mà Thôi Hiệu muốn gửi gắm qua bài Hoàng Hạc lâu, ta cần nắm đƣợc sự chi phối của tƣ tƣởng Đạo giáo đối với thơ Đƣờng. Hoàn cảnh chính trị, xã hội Thời Sơ Đƣờng (618 – 713): Trong gần một trăm năm của thời kỳ này, Trung Quốc sống trong cảnh thái bình, an lạc. Có một vài cuộc rối loạn do sự chấp chính của nữ nhân (Vũ hậu, Vi hậu, Thái Bình công chúa), nhƣng những vụ biến động này chỉ giới hạn trong chốn cung đình hay ở một vài địa phƣơng và cũng nhanh chóng bình định.
Vì vậy thơ làm trong thời kì này phần nhiều là những bài ca tụng cảnh đất nƣớc thanh bình, tán dƣơng thịnh đức của triều đại, có văn từ hoa mỹ diễm lệ. Ðầu thời Sơ Ðƣờng, xuất hiện hai khuynh hƣớng thi ca, mà sau này phát triển mạnh trong thời Thịnh Ðƣờng: Biên tái và Ðiền viên. Biên tái là loại thơ tả cảnh sắc biên thùy và tâm tình của ngƣời lính thú. Ðiền viên là loại thơ tả cuộc sống nông thôn đạm bạc, chất phác cùng những lạc thú thiên nhiên của nhàn nhân dật sĩ.
Thời Thịnh Đƣờng (713 – 766): Cuộc khởi loạn của An Lộc Sơn (năm 755) là mốc phân chia thời này ra làm hai giai đoạn: thái bình và tán loạn. Trƣớc loạn An Lộc Sơn là thời những bài thơ chứa đầy tình, nhạc và rƣợu. Cũng có những bài thơ tả tình quan ái và niềm khuê oán. Nhƣng đó là tình cảm hào hùng của ngƣời chinh phu tuy biết “Từ xƣa chinh chiến mấy ai về” nhƣng vẫn quyết “Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao”; là nỗi nhớ nhung, sầu muộn của ngƣời chinh phụ tuy có tê tái nhƣng không bi thảm.
Từ cuộc loạn An Lộc Sơn về sau, thơ ca phản ánh một xã hội điêu tàn, thống khổ. Chiến địa không còn là cảnh hùng tráng đầy thi vị, mà là nơi ma than, quỉ khóc, xƣơng trắng tả tơi. Những ngƣời lính thú bạc đầu nơi quan ải, những thiếu nữ thành cô phụ sau tối tân hôn, những ngƣời chồng phải gửi vợ nơi quê ngƣời, đất khách, và những ngƣời cha tủi hổ vì bất lực trƣớc cảnh con thơ chết đói. Các bài nhƣ Tam lại, Tam biệt của Ðỗ Phủ cực tả cảnh chiến tranh tàn khốc, xã hội tối tăm trong thời kì này.
Lí Bạch và Đỗ Phủ là hai tên tuổi nổi bật nhất thời Thịnh Đƣờng với hai phong cách thơ hoàn toàn khác nhau. Một ngƣời là nhà thơ lãng mạn vĩ đại nhất, một ngƣời là nhà thơ hiện thực vĩ đại nhất. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thời Trung Ðƣờng (766 - 835): Sau khi loạn An Lộc Sơn, Sử Tƣ Minh đã bình, tình hình vẫn còn phân loạn. Giặc ngoài quấy nhiễu, triều đình thối nát, hoạn quan lộng quyền, đó là những nguyên nhân khiến xã hội bất an, nhân dân cực khổ.
Tình trạng thơ ca kém hẳn thời trƣớc. Các nhà thơ chỉ quanh quẩn trong phạm vi cũ, không có gì sáng tạo mới mẻ, tạo những sắc màu mới cho thi đàn. Nổi bật hơn cả là nhà thơ Bạch Cƣ Dị với chủ trƣơng nghệ thuật vị nhân sinh. Bạch Cƣ Dị thích làm những bài thơ dùng chữ thông tục, dễ hiểu, có thể gọi là thơ bạch thoại của đƣơng thời.
Nhƣng những tác phẩm phổ biến nhất và nổi tiếng nhất của ông lại là những bài thơ trƣờng thiên trữ tình: Trường hận ca tả mối diễm tình bi thảm của Ðƣờng Minh Hoàng với Dƣơng Quí Phi, và Tì bà hành nói lên tâm sự ngƣời thƣơng phụ ở bến Tầm Dƣơng. Thời Vãn Đƣờng (836 – 905): Tình trạng, chính trị, kinh tế, xã hội càng ngày càng suy đồi. Quan lại tham nhũng, thuế má nặng nề, thƣởng phạt bất công,những nguyên nhân ấy đƣa đến loạn Vƣơng Tiên Chi (874) rồi loạn Hoàng Sào hơn trong 10 năm, làm sụp đổi nhà Ðƣờng. Lịch sử tái diễn cảnh hỗn độn khoảng cuối đời Tùy, văn học trở lại duy mỹ lúc Ðƣờng Sơ.
Trƣớc kia có phái Ỷ mỹ, bây giờ có phái Chi Phấn, tràn ngập phong khí hoa diễm lãng mạn. Tư tưởng văn hóa Về mặt tƣ tƣởng, đặc điểm của đời Đƣờng là sự tịnh thịnh của ba giáo thuyết Nho, Đạo và Phật. Tình trạng Tam giáo đồng nguyên này có ảnh hƣởng đối với khuynh hƣớng sáng tác của thi nhân, tạo ra những phong cách, trƣờng phái và cảm hứng sáng tác đa dạng của thơ Đƣờng. - Nho giáo đƣợc tôn sùng từ thời nhà Hán với Đổng Trọng Thƣ, đến đời Đƣờng lại càng hƣng thịnh.
Loại thơ phúng thích xã hội nhƣ Đỗ Phủ, Bạch Cƣ Dị đã thấm nhuần tinh thần cũng nhƣ tƣ tƣởng tích cực của Khổng Tử. - Trong các đời Tần Hán, Đạo gia có ảnh hƣởng lớn. Đến đời Đƣờng, nó gần nhƣ trở thành quốc giáo. Ảnh hƣởng của Đạo giáo với thi ca rất lớn lao.
Những bài thơ thần tiên của Lý Bạch, tự nhiên của Vƣơng Duy, Mạnh Hạo Nhiên và duy mỹ của Lý Thƣơng Ẩn là những tác phẩm tiêu biểu của loại thơ có màu sắc Đạo gia. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Phật giáo du nhập vào Trung Quốc từ thời Đông Hán, và đã phát triển trong thời Nam Bắc triều, nhƣng đến đời Đƣờng mới thật thịnh đạt. Phật giáo nhờ sự tôn sùng của vua chúa và công trình dịch kinh của chƣ tăng, đã lan rộng, thấm sâu trong các tầng lớp nhân dân. Trong số các thi nhân nổi tiếng Giả Đảo đã từng làm tăng, Vƣơng Duy là nhân vật quan trọng trong Nam phái thiền tông.
Tuy không có ảnh hƣởng nhiều nhƣ Nho và Đạo, Phật giáo cũng đem lại cho thi ca đời Đƣờng những sắc thái và ý tƣởng đặc biệt. Các đề tài và trường phái thơ Đường 1. Đề tài Đề tài trong thơ Đƣờng có những nội dung đa dạng và phong phú, với nhiều hình thức diễn đạt phóng khoáng, từ những đề tài về an nhàn ẩn dật, vui thú điền viên, tả cảnh thiên nhiên, đến những bài thơ nói về cung đình, biên tái, chiến chinh, những đề tài liên quan đến xã hội, cảnh nghèo đói áp bức, nỗi bất công của phụ nữ, những bài thơ tâm tình, từ tình bè bạn, tình yêu thiên nhiên, đến tình yêu nam nữ, rồi những đề tài vịnh sử, hoặc những bài thơ mang hƣơng vị Thiền… 1. Các trường phái Để phản ánh hiện thực xã hội phong phú muôn màu muôn vẻ, thơ ca đời Đƣờng xuất hiện nhiều trƣờng phái, phong cách và phát triển một cách rầm rộ, nhiều tác giả, tác phẩm nổi tiếng ở thời kì này đƣợc đời sau truyền tụng và ca ngợi.
Căn cứ vào đề tài sáng tác, các nhà văn học sử Trung Quốc đã chia thơ Đƣờng thành các trƣờng phái sau: - Trƣờng phái Điền viên sơn thủy : Phái Điền viên sơn thủy còn đƣợc gọi là phái “Vƣơng – Mạnh” bởi vì hai thi nhân tiêu biểu của phái này là Mạnh Hạo Nhiên (689 – 740) và Vƣơng Duy (701 – 761). Mạnh Hạo Nhiên là nhà thơ sống gần gũi với với cảnh thôn quê lặng lẽ, bình dị. Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ông đƣợc miêu tả đẹp đẽ với cảnh thanh nhàn êm ả của làng quê, cảnh núi sông hùng vĩ và tráng lệ… Ngƣời thứ hai là Vƣơng Duy tự Ma Cật, tuy suốt đời làm quan nhƣng ông thƣờng sống nhƣ một ẩn sĩ, là ngƣời sùng tín đạo Phật, thơ mang đậm ý vị thiền nên đƣợc mọi ngƣời tôn vinh là Thi Phật. Ông là một ngƣời rất đa tài, không những nổi tiếng về thơ mà còn am hiểu về âm nhạc, có tài thƣ pháp và là một danh họa.
Khi nhận xét về Vƣơng Duy, Tô Thức đời Tống cho rằng: “Thi trung hữu họa, họa 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trung hữu thi” (Đọc thơ Ma Cật thấy trong thơ có họa, xem họa Ma Cật thấy trong họa có thơ).