CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LAO ĐỘNG CHO LẬP TRÌNH VIÊN THÔNG QUA ĐÃI NGỘ PHI TÀI CHÍNH TRONG DOANH NGHIỆP 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Động lực lao động Bất kỳ Công ty, tổ chức nào cũng mong muốn người lao động của mình hoàn thành công việc với năng suất cao nhất vì năng suất lao động ảnh hưởng lớn tới sự phát triển của tổ chức. Nhưng thực tế cũng cho thấy rằng, một tập thể luôn có những người sẵn sàng cống hiến đóng góp ở mức độ cao nhất, nhưng bên cạnh đó cũng có những người làm việc với năng suất thấp hoặc trung bình, đôi khi không đáp ứng được yêu cầu làm việc. Điều này đặt ra một câu hỏi cũng như là một vấn đề cho các nhà quản trị về việc duy trì, nâng cao năng suất người lao động.
Câu hỏi này đã được các nhà kinh tế học đưa ra lời giải đáp là do động lực làm việc của mỗi cá nhân người lao động. Điều này đặt ra vấn đề khiến cho Công ty cần phải quan tâm hơn đến vấn đề tạo động lực làm việc cho người lao động. Trên thực tế có rất nhiều quan điểm, quan niệm khác nhau về động lực lao động. Theo Mitchell, ông cho rằng: Động lực là một mức độ mà một cá nhân muốn đạt tới và lựa chọn để gắn kết các hành vi của mình.
Theo Nguyễn Ngọc Quân: “Động lực được hiểu là sự khát khao, tự nguyện của người lao động để tăng cười nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt được các mục tiêu, kết quả nào đó.” Theo Lê Thanh Hà (2009): “Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng nỗ lực, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động”. 9 Qua đó, ta có thể thấy được rằng động lực là những nhân tố, khả năng bên trong của mỗi con người. Những nhân tố và khả năng này tạo nên sự khích lệ, khuyến khích người lao động làm việc có hiệu quả hơn, năng suất hơn, đớng góp nhiều hơn, thay đổi hành vi, biểu hiện làm việc, thái độ của bản thân để đạt được những mục tiêu theo hướng doanh nghiệp, Công ty muốn người lao động hướng tới và đạt được.
Tạo động lực lao động Theo Nguyễn Thị Hồng (2021): “Tạo động lực lao động (employee motivation) là hệ thống các biện pháp, chính sách, thủ thuật, hoạt động, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động nỗ lực làm việc hiệu quả nhất trong công việc”. Theo Bùi Anh Tuấn (2009): “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Tạo động lực chính là một cách khiến cho công việc hấp dẫn hơn, thông qua nhiều phương thức biểu hiện khách nhau như khuyến khích, lương thưởng, …và khi cảm nhận được sự hấp dẫn đó người lao động sẵn sàng làm việc và lao động tự nguyện cũng như nhiệt tình hơn. Để đạt được kết quả này, các nhà quản lý cần quan tâm đến việc tạo động lực một cách phù hợp để hướng hành vi của người lao động theo cách họ muốn cũng như tuân thủ theo phương hướng và mục tiêu phát triển của Công ty, doanh nghiệp.
Qua đó, về cơ bản, ta có thể định nghĩa về khái niệm tạo động lực lao động chính là việc các nhà quản trị Công ty đưa ra các chính sách đãi ngộ, tiền lương, thưởng, đào tạo,. tới người lao động và thông qua các chính sách và hoạt động đó tác động đến khả năng làm vệc, tinh thần, thái độ của người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực hơn trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng với công việc, tạo thỏa mãn, giảm căng thẳng, đem lại hiệu 10 quả cao trong lao động, đóng góp nhiều hơn, tạo ra nhiều giá trị hơn cho tổ chức, doanh nghiệp. Việc tạo động lực lao động cần phải phù hợp với nhu cầu cũng như nguyện vọng của người lao động, tạo cho người lao động sự hăng say sáng tạo cũng như phải phủ hợp với doanh nghiệp. Tạo động lực lao động có sự gắn liền với lợi ích.
Lợi ích tạo ra động lực trong lao động hay chính tạo động lực lao động là tạo ra lợi ích. Trong công tác tạo động lực, có thể chia ra hai khái niệm cơ bản, tạo động lực thông qua đãi ngộ tài chính và đãi ngộ phi tài chính. Ở khuôn khổ luận văn này, tác giả lựa chọn phân tích việc tạo động lực thông qua đãi ngộ phi tài chính. Đãi ngộ phi tài chính Bên cạnh những động lực, đãi ngộ tài chính luôn được nhắc tới là các đãi ngộ thông qua các chính sách tiền lương, bằng chế độ, chính sách khen thưởng, bằng các chế độ phúc lợi, thì ta cũng cần nhắc tới những đãi ngộ phi tài chính.
Đãi ngộ phi tài chính ở đây là những chính sách không liên quan đến lương thưởng, phúc lợi, tiền bạc nhưng vẫn đem lại, vẫn tạo được động lực cho người lao động. Xã hội ngày càng phát triển, cuộc sống con người ngày càng được nâng cao. Người lao động với khả năng làm việc tốt, trình độ cao thường đưa ra những yêu cầu làm việc khắt khe, đòi hỏi một môi trường làm việc chuyên nghiêp, đáp ứng không chỉ nhu cầu vật chất mà còn cả nhu cầu tinh thần. Công ty lúc này không chỉ là nơi để kiếm sống, mà còn là nơi để diễn ra các hoạt động xã hội, tinh thần, nơi người lao động mong muốn được ghi nhận, được thể hiện mình, và cao hơn, là nơi mà họ có thể thể hiện hết khả năng tiềm tàng, sáng tạo để vượt lên khả năng của bản thân và cống hiến hết sức mình.
Do đó, lúc này việc tạo động lực thông qua các đãi ngộ tài chính không còn ý nghĩa quá nhiều nữa mà Công ty cần chú trọng vào các đãi ngộ phi tài chính nhằm kích thích phi vật chất để nắm thế chủ lực. Các đãi ngộ phi tài chính rất đa dạng, bao gồm các biện pháp phân công công việc 11 hợp lý, thông qua việc tạo môi trường, điều kiện làm việc lý tưởng, thông qua việc đánh giá và ghi nhận kết quả thực hiện công việc, tạo điều kiện thông qua mối quan hệ với lãnh đạo, hay hơn nữa là thông qua đào tạo bồi dưỡng, và cơ hội thăng tiến. Đãi ngộ phi tài chính đối với người lao động rất đa dạng và đây là một khía cạnh quan trọng mà các doạnh nghiệp cần chú ý khi muốn tạo động lực cho người lao động. Tạo động lực lao động thông qua đãi ngộ phi tài chính Tạo động lực lao động thông qua đãi ngộ phi tài chính là một công việc cần được chú ý và coi trọng trong quá trình tạo động lực tại Công ty.
Tạo động lực thông qua đãi ngộ phi tài chính là việc xây dựng các hoạt động về văn hóa, các chính sách kích thích, tạo động lực không liên quan đến chính sách lương thưởng phúc lợi cho nhân viên trong Công ty. Việc tạo động lực thông qua đãi ngộ phi tài chính được biểu hiện ở nhiều khía cạnh và các hoạt động khác nhau theo tùy từng Công ty cũng như lĩnh vực hoạt động. Nhưng về cơ bản, việc tạo động lực thông qua các đãi ngộ phi tài chính được đánh giá thông qua các khía cạnh cơ bản sau đây: tạo động lực thông qua phân công công việc, tạo động lực thông qua môi trường làm việc và điều kiện làm việc, tạo điều kiện thông qua đánh giá và ghi nhận kết quả thực hiện công việc, tạo động lực thông qua mối quan hệ với lãnh đạo, tạo động lực thông qua đào tạo bồi dưỡng, tạo động lực thông qua cơ hội thăng tiến,… Ngoài các mặt và các hoạt động kể trên, việc tạo động lực thông qua đãi ngộ phi tài chính còn có thể được đánh giá ở nhiều mặt và khía cạnh khác. Ở luận văn này, tác giả tiến hành nghiên cứu và đánh giá cũng như đưa ra giải pháp đối với việc tạo động lực thông qua đãi ngộ phi tài chính ở 06 khía cạnh trên.
Lập trình viên Theo trang Michigan Tech (trường đại học công nghệ Michigan, Mỹ), lập trình viên (người lập trình hay thảo chương viên điện toán) là người 12 viết ra các chương trình máy tính. “Thảo chương viên điện toán” là một từ cũ, được dùng trước năm 1975, và đang trở nên ít phổ thông hơn. Theo thuật ngữ máy tính, lập trình viên có thể là một chuyên gia trong một lĩnh vực của chương trình máy tính hoặc là một người không chuyên, viết mã cho các loại phần mềm. Người đã thực hiện và đưa ra cách tiếp cận chính thức để lập trình được gọi là người phân tích phần mềm.
Bên cạnh đó, một cách dễ hiểu khác dễ hiểu hơn được phổ biến với mọi người về khái niệm lập trình viên đó là Lập trình viên (tiếng anh là Programmer) hay còn được gọi là Nhà phát triển (Developer – viết tắt là DEV). Đây là người sử dụng các ngôn ngữ lập trình để viết, sửa lỗi và cho chạy các đoạn mã nhằm tạo ra các phần mềm, ứng dụng có thể hoạt động trên các thiết bị điện thoại di động, máy tính,. Hiện nay có rất nhiều chức danh cho vị trí công việc này như: - Kỹ sư phần mềm (Software Engineer). - Nhà phát triển phần mềm (Software Developer).
- Lập trình viên máy tính (Computer Programmer). - Lập trình viên phần mềm (Software Coder) hay gọi tắt là Coder. Lập trình viên cần phải biết rất nhiều kiến thức chuyên môn và các ngôn ngữ lập trình như C++, Java (J2EE), XML, Python,… Như vậy có khá nhiều cách định nghĩa khác nhau về lập trình viên. Trong luận văn này, lập trình viên sẽ được nghiên cứu trên quan điểm là những người sử dụng ngôn ngữ lập trình để viết, sửa lỗi và cho chạy các đoạn mã nhằm tạo ra các phần mềm, ứng dụng có thể hoạt động trên các thiết bị điện thoại di động, máy tính.2 Một số học thuyết liên quan đến tạo động lực cho người lao động 13 1.1 Học thuyết Maslow Học thuyết của Maslow là một lý thuyết về tâm lý học được đề xuất bởi Abraham Maslow trong bài viết "A Theory of Human Motivation" năm 1943 trong Đánh giá Tâm lý học.
Hệ thống nhu cầu của Maslow có ảnh hưởng rộng khắp bên ngoài giới học thuật.