Chương 1: Cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động trong doanh nghiệp. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Chương 2: Thực trạng tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Dụng cụ Anmi. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động tạo động lực làm việc cho người lao động tại Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Dụng cụ Anmi. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm liên quan tạo động lực làm việc 1. Người lao động trong doanh nghiệp Khi con người tham gia vào quá trình lao động được coi là người lao động (NLĐ). Như vậy, người lao động là những người có sức lao động và thực hiện lao động nhằm tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu chính đáng của bản thân, tập thể và xã hội. NLĐ trong doanh nghiệp (DN) là một bộ phận của lao động xã hội.
NLĐ trong DN tham gia vào quá trình sản xuất, kinh doanh của DN nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu cá nhân NLĐ và vì mục tiêu kinh doanh của DN. Theo Khoản 1 Điều 3, Bộ Luật lao động năm 2012 thì: “Người lao động là người đủ từ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dụng lao động”. Theo Khoản 1 Điều 3 Bộ Luật lao động năm 2019 sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 thì: “Người lao động là người làm việc cho người sử dụng lao động theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của người sử dụng lao động. Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi”.
Người lao động là người làm công ăn lương, đóng góp lao động và chuyên môn để nỗ lực tạo ra sản phẩm cho người sử dụng lao động và thường được thuê với hợp đồng làm việc (thỏa thuận) để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm hướng tới mục tiêu chung của doanh nghiệp, thường ở đây là lợi nhuận. Do vậy, người lao động trong doanh nghiệp là những người làm việc tại doanh nghiệp, theo hợp đồng làm việc, chịu sự điều hành của người quản lý doanh nghiệp hay chính là chủ sở hữu doanh nghiệp. Động lực làm việc Động lực là chủ đề nghiên cứu từ lâu trong lịch sử tâm lý học. Theo thuyết tâm lý học, động lực sẽ dẫn đến hành vi của con người.
Các nhà tâm lý học đã tìm LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 13 cách lý giải lý do con người có thể thực hiện được hành vi nào đó hay tại sao hoạt động của họ có thể kéo dài trong một thời gian nhất định hoặc dừng lại đúng lúc. Động lực là cái thúc đẩy con người làm hoặc không làm một điều gì đó (Sheri Coates Broussard and M. Theo Guay và cộng sự (2010) động lực là lý do để thực hiện hành vi. Động lực khiến con người chuyển từ trạng thái chán nản sang thích thú (Islam và Ismail, 2008).
Higgins (1994) cho rằng động lực là lực đẩy từ bên trong cá nhân để đáp ứng các nhu cầu chưa được thỏa mãn. Động lực là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, là những mục tiêu thúc đẩy hành động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu và tình cảm của họ. Động lực luôn gắn liền với nhu cầu của con người và hoạt động của mỗi cá nhân là thoả mãn những nhu cầu đòi hỏi của bản thân mỗi cá nhân đó. Từ những quan điểm trên, động lực được hiểu là sự khát khao và tự nguyện của con người nhằm tăng cường sự nỗ lực để đạt được mục đích hay một kết quả cụ thể.
Một người có động lực là khi người đó bắt tay vào hành động một cách tự nguyện mà không cần có sự ép buộc. Khi nghiên cứu động lực trong lao động cho thấy động lực trong lao động là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động mà ra. Mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tạo ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức. Có nhiều khái niệm khác nhau về động lực làm việc của người lao động có thể đề cập đến một số khái niệm cơ bản sau: Dựa trên giáo trình Giáo trình kinh tế nguồn nhân lực của Trần Xuân Cầu (2012) “Động lực là mức độ hưng phấn ở mỗi người khi tham gia vào quá trình làm việc; đó chính là động cơ mạnh thúc đẩy con người làm việc một cách tích cực, chủ động và sáng tạo”.
Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Nguyễn Ngọc Quân và Nguyễn Vân Điềm (2012) đã định nghĩa: “Động lực lao động là sự khát khao và tự nguyện của NLĐ để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới việc đạt các mục tiêu của tổ chức”. Theo giáo trình Quản trị nhân lực của Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Động lực làm việc là những mong muốn, khao khát của người lao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 động được kích thích để họ nỗ lực hoạt động nhằm đạt được những mục tiêu nhất định của cá nhân và tổ chức”. Từ các quan điểm trên cho thấy động lực làm việc của người lao động chính là nhân tố tác động trực tiếp hoặc gián tiếp quyết định sự thành công của tổ chức. Động lực làm việc của người lao động gắn liền với công việc và tổ chức họ làm việc.
Tóm lại động lực làm việc là sự nỗ lực, cố gắng từ chính bản thân mỗi người lao động trong quá trình làm việc từ đó thúc đẩy họ làm việc tích cực, năng suất, chất lượng, hiệu quả, có khả năng thích nghi và sáng tạo cao nhất trong tiềm năng của họ. Tạo động lực làm việc cho người lao động Theo Lê Thanh Hà (2012) thì: “Tạo động lực lao động là tổng hợp các biện pháp và cách hành xử của tổ chức, nhà quản lý để tạ ra sự khát khao, tự nguyện của người lao động buộc họ phải nỗ lực, cố gắng phấn đấu nhằm đạt được các mục tiêu mà tổ chức đề ra. Các biện pháp được đặt ra có thể là các đòn bẩy kích thích về tài chính, phi tài chính, cách hành xử của tổ chức được thể hiện ở điểm tổ chức đó đối xử lại với người lao động như thế nào” Theo Bùi Anh Tuấn (2011) thì: “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”. Theo Mai Thanh Lan và Nguyễn Thị Minh Nhàn (2016): “Tạo động lực làm việc là quá trình xây dựng, triển khai thực hiện và đánh giá các chương trình, biện pháp tác động vào những mong muốn, khát khao của người lao động nhằm thúc đẩy họ làm việc để đạt các mục tiêu cá nhân và tổ chức, doanh nghiệp”.
Từ các khái niệm trên có thể hiểu rằng tạo động lực làm việc cho người lao động chính là việc nhà quản trị vận dụng một cách hệ thống các chính sách, biện pháp, cách thức quản lý để tác động tới người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và mong muốn được đóng góp cho doanh nghiệp, tổ chức. Tạo động lực làm việc cho nhân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 viên sẽ tác động đến năng suất, chất lượng, hiệu quả làm việc và do vậy sẽ có tác động đết kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Như vậy, có thể nói rằng tạo động lực làm việc cho người lao động là vấn đề quan trọng và thuộc về sự chủ động của người quản lý trong tổ chức. Để có thể nâng cao hiệu quả làm việc của NLĐ thì tổ chức phải cân nhắc, xem xét đưa ra những chính sách phù hợp, hợp lý để thúc đẩy động lực làm việc của NLĐ, sẽ phải tạo cho NLĐ tinh thần thoải mái nhất khi làm việc để có thể cống hiến hết mình, đi đến hiệu quả cao nhất.
Tuy nhiên, do nguồn lực của tổ chức có hạn nên không phải tổ chức nào cũng có những giải pháp hoàn hảo cho tất cả những vấn đề này. Do đó, người quản lý trong tổ chức sẽ phải cân nhắc và lựa chọn những vấn đề, chính sách được ưu tiên và có tính khả thi nhất để giải quyết trước trong phạm vi nguồn lực cho phép để có thể thực hiện được. Một số học thuyết về tạo động lực làm việc 1. Học thuyết nhu cầu của Abraham Maslow Theo Abraham H.
Maslow trích A Theory of Human Motivation (2013), nhu cầu của con người phù hợp với sự phân cấp từ nhu cầu thấp nhất đến cao nhất. Khi một nhóm các nhu cầu được thỏa mãn thì loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa. Nhu cầu hoàn thiên Nhu cầu được tôn trọng Nhu cầu xã hội Nhu cầu an toàn Nhu cầu sinh lý Hình 1.1: Sự phân cấp nhu cầu của A.TS Lê Thanh Hà) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 Nhu cầu sinh lý: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu vật chất hoặc nhu cầu sinh lý bao gồm các nhu cầu cơ bản của con người như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, các nhu cầu làm cho con người thoải mái…đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người. Nhu cầu an toàn: Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, khi đó các nhu cầu về an toàn, an ninh sẽ bắt đầu được kích hoạt.
Nhu cầu an toàn và an ninh này thể hiện trong cả thể chất lẫn tinh thần. Con người mong muốn có sự bảo vệ cho sự sống còn của mình khỏi các nguy hiểm. Nhu cầu này sẽ trở thành động cơ hoạt động trong các trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ… Nhu cầu xã hội: Nhu cầu này còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hoặc nhu cầu về tình cảm, tình thương.