CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC LÀM VIỆC CHO VIÊN CHỨC NGÀNH Y TẾ 1. Một số khái niệm và tầm quan trọng của tạo động lực làm việc 1. Khái niệm động lực làm việc 1. Khái niệm động lực Động lực được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau.
Theo Greenberg và Baron (2003), “động lực là một quá trình phản ứng tâm lý tạo ra sự mong muốn, định hướng và duy trì một hành vi nhằm hướng đến một mục tiêu nào đó” [9,tr. Theo Locke và Latham (2004), “động lực đề cập đến các yếu tố bên trong bắt buộc hành động và các yếu tố bên ngoài có thể hoạt động như sự khuyến dụ/khích lệ hành động”. Động lực từ góc độ quản lý nguồn nhân lực, “chính là sự khao khát và tự nguyện của cá nhân nhằm phát huy và hướng các nỗ lực của bản thân để đạt được các mục tiêu cá nhân và mục tiêu của tổ chức” [32, tr. Từ các định nghĩa khái niệm trên, có thể đưa ra các đặc điểm cơ bản về về động lực: Động lực là tổng hợp các yếu tố, điều kiện, môi trường (vật chất và phi vật chất) có tác dụng thu hút, kích thích sự hăng say, thúc đẩy nỗ lực hoạt động, quyết tâm làm việc của con người, nhằm đạt được mục tiêu của cá nhân và mục tiêu tổ chức.
Khái niệm động lực làm việc Có nhiều cách tiếp cận, khái niệm, định nghĩa khác nhau về động lực làm việc. Theo tác giả Chiristal Batal, “động lực làm việc là một động cơ có ý thức hay vô thức khơi dậy và hướng hành động vào việc đạt mục tiêu mong đợi. Từ định nghĩa này, có thể hiểu động lực làm việc là sự thôi thúc khiến người ta hành động, vì thế nó có ảnh hưởng rất mạnh đến hành vi con người” [30, tr. 10 Theo giáo trình Động lực làm việc trong tổ chức hành chính nhà nước: “động lực làm việc được hiểu là sự thúc đẩy khiến cho con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép để tạo ra năng suất, hiệu quả cao” [35].
“Động lực của người lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người nỗ lực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lực say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như của bản thân người lao động” [21]. Theo giáo trình quản trị nhân lực thì “Động lực làm việc chính là sự khao khát và tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức” [34]. Động lực làm việc có những đặc điểm cơ bản: Động lực làm việc liên quan đến con người, công việc, tổ chức và môi trường làm việc cụ thể.
Biểu hiện qua thái độ của con người đối với tổ chức mà họ làm việc gắn liền với hoạt động thực hiện công việc cụ thể của người lao động. Mỗi người lao động có nhiệm vụ khác nhau, từng cá nhân cũng có những động lực riêng, thúc đẩy họ tích cực hơn trong quá trình làm việc. Tuy nhiên, động lực làm việc chỉ là một trong những yếu tố ảnh hưởng kết quả công việc, ngoài ra kết quả công việc còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác có tính khách quan khác. Động lực làm việc mang tính tự nguyện, chủ quan của người lao động.
Khi họ làm việc một cách chủ động và tự nguyện, kết quả công việc sẽ đạt cao nhất. Vì vậy, nhà quản lý cần đưa ra các cơ chế khuyến khích, tác động đến người lao động để họ nỗ lực hơn trong công việc. Từ những khái niệm trên, theo quan điểm của tác giả: Động lực làm việc bao gồm các yếu tố, điều kiện, môi trường vật chất, phi vật chất có tác động, thúc đẩy, kích thích, làm cho cá nhân người lao động mong muốn, tự nguyện và nỗ lực làm việc để đạt được những mục tiêu của cá nhân, tổ chức. Khái niệm tạo động lực làm việc Tạo động lực làm việc là một hoạt động quan trọng trong quá trình quản lý, có ảnh hưởng đáng kể đến kết quả công việc.
Các nhà quản lý cần chủ động sử dụng nhiều phương pháp vật chất, phi vật chất khác nhau để động viên, khuyến khích, tạo sức hút lôi cuốn người lao động trong công việc, khơi dậy mong muốn cống hiến, tự nguyện nỗ lực hết mình, sáng tạo và hoàn thành công việc được giao với kết quả tốt nhất có thể. Từ những phân tích trên, theo tác giả: tạo động lực làm việc là tất cả các phương thức, hoạt động mà nhà quản lý sử dụng để tác động đến người lao động nhằm khuyến khích, động viên người lao động nỗ lực, sáng tạo trong thực hiện công việc được giao, nhằm đạt được các mục tiêu, thành tích cao nhất có thể. Khái niệm viên chức Viên chức là thuật ngữ chỉ những người lao động làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc hệ thống cơ quan hành chính nhà nước. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, viên chức có nhiều vị trí xã hội khác nhau.
Các viên chức cấp cao thường thuộc tầng lớp trên của xã hội. Viên chức trong các lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, giáo dục, y tế có bằng cấp và tay nghề và có thu nhập tương đối ổn định, số đông thuộc tầng lớp trung lưu. Viên chức nhỏ gần gũi với những người lao động. Ở Việt Nam, viên chức là người có quốc tịch Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc theo chế độ hợp đồng trong các đơn vị sự nghiệp công lập, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật [40].
Khái niệm viên chức y tế Nghị định số 95/2022/NĐ-CP ngày 15/11/2022 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Y tế tại Điều 1: “Bộ Y tế là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về y tế, bao gồm các lĩnh vực: Y tế dự phòng; khám bệnh, chữa bệnh, phục hồi chức 12 năng; giám định y khoa, pháp y, pháp y tâm thần; y, dược cổ truyền; trang thiết bị y tế; dược, mỹ phẩm; an toàn thực phẩm; bảo hiểm y tế; dân số, sức khỏe sinh sản; quản lý nhà nước các dịch vụ công trong lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ” [29]. Theo quy định trên có thể đưa ra các đặc điểm về viên chức y tế: - Viên chức y tế là công dân Việt Nam được tuyển dụng, bổ nhiệm vào một vị trí việc làm hoặc giao giữ một nhiệm vụ thường xuyên trong hệ thống đơn sự vị nghiệp công lập ngành y tế Việt Nam, làm việc theo chế độ hợp đồng lao động từ Trung ương xuống địa phương; - Viên chức y tế hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập. - Viên chức y tế chịu sự điều chỉnh của Luật Viên chức; Bộ Luật lao động và các luật có liên quan. Tầm quan trọng của tạo động lực làm việc cho đội ngũ viên chức Tạo động lực làm việc là một chức năng, nhiệm vụ, hoạt động quan trọng của nhà quản lý, mang tính quyết định đối với hiệu suất làm việc, tạo ra sự khác biệt về năng suất, đảm bảo hiệu quả hoạt động cuả tổ chức và tạo dựng thương hiệu, lợi thế cạnh tranh của tổ chức.
Tạo động lực cho đội ngũ viên chức vô cùng quan trọng đối với các quốc gia, bởi vì viên chức là những thành phần quan trọng quyết định đến hiệu lực và hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Nếu viên chức không có động lực hoặc động cơ làm việc không tích cực, sẽ ảnh hưởng xấu đến hiệu suất làm việc của cơ quan nhà nước và có tác động tiêu cực đến xã hội và công dân Đơn vị sự nghiệp công lập là những tổ chức được thành lập bởi nhà nước để thực thi quyền lực và hoạt động mang tính phục vụ công, được tài trợ bằng nguồn kinh phí từ ngân sách nhà nước. Nếu các viên chức thiếu động lực làm việc, các cơ quan này có thể đối mặt với việc không hoàn thành nhiệm vụ được giao, vi phạm pháp luật. Hoạt động của cơ quan sẽ không hiệu quả, gây lãng phí lớn về cả tài chính và nguồn lực vật chất, làm giảm niềm tin của nhân dân vào tổ chức và nhà nước.
13 Viên chức là những chủ thể đại diện Nhà nước trong quản lý, cung cấp các dịch vụ cho xã hội, người dân. Trình độ, chuyên môn, năng lực và động lực, thái độ của viên chức đóng vai trò quan trọng đối với hiệu lực và hiệu quả của công tác quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, nếu viên chức thiếu động lực làm việc, thì trình độ và năng lực chưa đủ để nâng cao hiệu quả quản lý hành chính. Vì vậy, để đạt được hiệu quả hoạt động cao trong tổ chức hành chính nhà nước và thành công cuộc cải cách hành chính, cần quan tâm đến việc tạo động lực làm việc cho đội ngũ viên chức.
Đặc điểm của viên chức y tế Viên chức trong lĩnh vực y tế là công dân Việt Nam, có trình độ chuyên ngành y tế, được tuyển dụng vào làm việc ở hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập ngành y tế theo chế độ hợp đồng, hưởng lương từ quỹ lương và các nguồn thu nếu có của đơn vị. Chất lượng của đội ngũ viên chức được đánh giá dựa trên các tiêu chuẩn cơ bản của ngành y tế với những đặc điểm chuyên biệt như sau: + Lao động mang tính chuyên môn nghiệp vụ, không phải là thi hành công vụ như cán bộ, công chức. Nên viên chức ngành y tế được tạo điều kiện để phát huy tài năng, sức sáng tạo, khả năng công hiến cho xã hội. + Viên chức y tế được tuyển dụng gắn với vị trí việc làm, thông qua chế độ hợp đồng làm việc và thu nhập được hưởng từ quỹ tiền lương của đơn vị sự nghiệp công lập.
+ Lao động nghề nghiệp mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cao nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản về phát triển con người gắn với nhu cầu mỗi các nhân và xã hội. Sản phẩm cung cấp cho người thụ hưởng chủ yếu là các hàng hóa phi hiện vật, không hoàn toàn theo giá thị trường. + Đối tượng phục vụ, tác nghiệp của viên chức ngành y tế là con người: Mỗi bệnh nhân là một chủ thể độc lập, có quyền được sống, với điều kiện kinh tế, trình độ, nhận thức và cá tính khác nhau, được pháp luật bảo vệ.